<%@page contentType="text/html; charset=UTF-8"%> Hoạt động của VPA
Hoạt động của VPA
  Hội nghị và văn kiện
  Bản báo cáo
  Diễn văn
  ESCAP
  ASEAN
  APA
  WTO
  IMO
  UNCTAD
  APEC
  IAPH
  Các tổ chức quốc tế ở Việt Nam
 
 
 

HIỆP HỘI CẢNG BIỂN VIỆT NAM
BÁO CÁO CỦA BAN THƯ KÝ
Tại Hội nghị thường niên năm 2009
Ngày 11/09/2009 – Tp. Phan Thiết
           

Căn cứ vào quyết định của phiên họp BCH VPA vào ngày 25/6/2009 vừa qua tại Cảng Sài Gòn, nội dung báo cáo của BTK tại HNTN lần này cần được rút ngắn tối đa dể giành thời gian cho phần tham gia ý kiến của khách mời và đại biểu. Báo cáo chi tiết đã được đưa vảo văn kiện hội nghị. Ngoài nội dung kiến nghị chung của Hiệp hội với các cơ quan thẩm quyền để giải quyết những khó khăn vướng mắc của khối cảng cần được BTK phổ biến tại hội nghị này, một số nội dung được trình bày tóm tắt liên quan đến hội viên, hội phí, dự trù ngân sách và nhiệm vụ công tác trong thời gian tới.

  1. Hội viên: Hiện nay, Hiệp hội có 49 thành viên với tổng sản lượng thông qua gần 144 triệu tấn / năm 2008 tăng 7,3% so với năm 2007. Hiện nay, hầu hết các cảng chính của VN đã là thành viên của hiệp hội. Tuy nhiên, vẫn còn một mảng các cảng nằm ngoài hiệp hội, đặc biệt là các cảng liên doanh mới đang hình thành là những cảng hội viên tiềm năng.

 

            Tại Hội nghị thường niên lần này, Hiệp hội rất vui mừng được đón tiếp đại diện lãnh đạo một số cảng tiềm năng như:

            - Cảng SP-PSA International Port
            - Cảng Dịch vụ dầu khí PTSC (PTSC Supply Base)
            - Cảng Vinashin Đình Vũ
            - Cảng Saigon Premier Container Terminal (SPCT)
            - Cảng Saigon International Terminals Vietnam (SITV)
            - Cảng Cai Mep International Container Terminal (CMIT)
            - Cảng SP - SSA International Container Services JVC (SSIT)

            Trong đó có những cảng đã đi vào khai thác và một số cảng sẽ hoàn thành vào năm tới hoặc đầu năm 2011 và cộng chung có năng lực thông qua về container hơn 6 triệu TEU/năm - cao hơn tổng sản lượng container thông qua các cảng trên phạm vi cả nước hiện nay - và đặc biệt là cảng nước sâu có khả năng tiếp nhận được tàu container lớn có sức chứa đến trên 8.000 TEU.

            Việc tham gia hiệp hội của các cảng mới này trong thời gian tới sẽ làm thay đổi đáng kể năng lực chung của các cảng trong hiệp hội và tiềm năng phối hợp giải quyết những vấn đề chung của khối cảng Việt Nam với nội dung và quan hệ tầm cỡ quốc tế.

1. Hội phí: cho đến nay tất cả 49 hội viên đã đóng đủ hội phí năm 2009 theo khung hội phí được Đại hội II thông qua.

Báo cáo thu chi đến 31/07/2009 theo báo cáo chính thức của Tài Vụ Cảng Sài Gòn được trình bày trong Phụ lục 1.

Dự trù ngân sách năm 2009-2010 cho các hoạt động của hiệp hội theo định hướng và yêu cầu trong báo cáo của BCH được trình bày trong Phụ lục 2 để hội nghị xem xét và cho ý kiến.

2. Nhiệm vụ công tác trong thời gian tới

Căn cứ vào chương trình và nội dung hoạt động đã được thông qua tại các lần họp trước và phương hướng nhiệm vụ yêu cầu trong báo cáo của Ban chấp hành vừa qua, BTK dự kiến một số công việc chính cần thực hiện trong năm tới như sau:

  • Tiếp tục các công việc thường xuyên và định kỳ
  • Triển khai một số công tác mới, bao gồm:
  1. Sử dụng chuyên gia bên ngoài và của các cảng thành viên nghiên cứu một số đề tài liên quan đến thị trường, giá cả, cơ chế quản lý, hiện trạng và biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập của khối cảng VN bằng kinh phí của hiệp hội.
  2. Hỗ trợ cho các cảng thành viên về thông tin, cơ hội hợp tác, phát triển kinh doanh, hội nhập kinh tế, phát triển nguồn nhân lực theo kịp với yêu cầu mới
  3. Chuẩn bị và phối hợp tổ chức tốt các kỳ họp của hiệp hội trong năm tới đặc biệt là Đại hội lần thứ VII VPA năm 2010, các phiên họp của BCH, các tiểu ban của hiệp hội theo yêu cầu
  4. Hỗ trợ cho các cảng thành viên về chuẩn hóa trong đó có hệ thống mã cảng và mã hàng hóa thông qua cảng, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và kinh doanh khai thác cảng, liên lạc trao đổi thông tin thường xuyên hơn sử dụng e-mail và diễn đàn trên web ...
  5. Tổ chức thu thập và tổng hợp báo cáo thông tin về tình hình hàng hóa, container thông qua cảng thường xuyên hơn, dự kiến là 6 tháng một lần thay vì hàng năm, để làm cơ sở phân tích dự báo phục vụ yêu cầu báo cáo, quy hoạch chung.
  6. Tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, tiếp thị cho khối cảng Việt Nam do VPA đăng cai tại VN theo phương thức lấy thu bù chi.
  7. Phát triển hoạt động phát hành tạp chí Thương mại Hàng hải (Shipping Times) kể cả báo điện tử chính thức của VPA tương xứng với tiềm năng và nhu cầu của hiệp hội và nhu cầu của các cảng thành viên.
  8. Thực hiện các nhiệm vụ công tác mới khác theo yêu cầu

4. Kiến  nghị. Căn cứ vào hiện trạng khai thác và phát triển cảng trong thời gian qua trong tình hình còn có nhiều bất cập trong lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cảng biển Việt Nam và nhu cầu hàng hoá thông qua ngày càng tăng, ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay; và trên cơ sở đúc kết ý kiến của các cảng thành viên, Hiệp hội có bản kiến nghị gởi Nhà nước và các cơ quan thẩm quyền để tạo điều kiện cho khối cảng nói riêng và ngành hàng hải nói chung phát triển nhanh và bền vững để đến năm 2020 hàng hải Việt Nam trở thành ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế biển của Đảng và Nhà nước. Kiến nghị có nội dung cụ thể như sau:

1. Xem phát triển và khai thác cơ sở hạ tầng cảng biển là một chiến lược mũi nhọn trong phát triển dịch vụ kinh tế biển và từ đó có cơ chế và chính sách cụ thể để cạnh tranh với khu vực và quốc tế về khai thác cảng biển trọng điểm quốc gia, cảng trung chuyển quốc tế, kết hợp với cơ chế chính sách đồng bộ khác kể cả cảng mở hoặc vùng kinh tế mở và các khu công nghiệp ở hậu phương cảng, quy hoạch dịch vụ hổ trợ về thương mại, tài chính, logistics v.v. Riêng quy chế cảng mở đã được thực hiện thí điểm 3 năm qua, cần được hoàn chỉnh, ban hành. 

2. Bổ sung quy hoạch phát triển cảng biển đáp ứng nhu cầu tăng trưởng hàng hóa, đặc biệt là hàng container cho đến năm 2020 cho các vùng kinh tế trọng điểm của ba miền với những cảng lớn tập trung, có khả năng tiếp nhận những tàu lớn, hạn chế các cảng nhỏ, manh mún. Đảm bảo tính đồng bộ với quy hoạch giao thông cầu đường, luồng lạch ra vào cảng để tiếp nhận được tàu lớn đang có trên thị trường. Trước mắt, đề nghị có biện pháp đảm bảo thực hiện kịp thời việc nâng cấp, duy tu các hạng mục cầu đường luồng lạch vào cảng cho các dự án cảng đang khai thác hoặc đang được đầu tư, cụ thể:

a) Tuyến đường: đường nối quốc lộ 5 với khu vực Cảng Đình Vũ tại Hải Phòng, Liên tỉnh lộ 25B vào Cảng Cát Lái tại TP. HCM, đường nối với các cảng tại KCN Hiệp Phước, đường vào cảng Bến Nghé mới tại Phường Phú Hữu, Q9, Tp. HCM, đường liên cảng 965 Cái Mép, dự án mở rộng quốc lộ 51, dự án đường cao tốc và đường sắt Biên Hoà - Vũng Tàu;

b) Luồng lạch vào Cảng Cần Thơ, cảng Hải Phòng, các cảng miền Trung trong đó có cảng Cửa Lò, Quảng Bình, Thuận An, Đà Nẵng khu vực cảng Cát Lái, cảng Hiệp Phước. Riêng luồng vào cảng khu vực Thị Vải, Cái Mép cần đảm bảo tiến độ thực hiện và có điều chỉnh quy hoạch để nạo vét sâu hơn cho tàu container lớn trên 100.000 DWT đang có nhu cầu sử dụng các cảng tại khu vực này;

c) Các vũng quay tàu trong cùng một khu vực cảng cần được xác định hoặc đầu tư bổ sung, điều chuyển vị trí phao và nạo vét thêm nếu cần để tạo điều kiện thuận tiện và an toàn cho tàu xoay trở, ra vào các cảng tại nhiều vị trí; (khu vực Tp. HCM, Cái Mép Thị Vải); 

d) Ở những nơi có lưu lượng lớn về tàu, hàng mà có quy định hạn chế chạy tàu ban đêm trên luồng cần có biện pháp đảm bảo an toàn bổ sung như thông tin tín hiệu, chiếu sáng, nạo vét ... để giải toả bớt hạn chế cho tàu hàng lưu thông nhanh hơn. (khu vực TP. HCM).

3. Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trong việc điều tiết thị trường đầu tư và khai thác cảng và hoạt động hàng hải trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó có thẩm quyền quản lý khai thác các cảng trọng điểm của các công ty nước ngoài và khả năng chi phối thị trường, áp đặt giá của các hãng tàu nước ngoài theo hướng tăng quyền điều tiết, quản lý thị trường của Nhà nước thông qua các hiệp hội và cộng đồng các doanh nghiệp tại Việt Nam. 

4. Cải tiến thủ tục Hải quan theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai báo, kiểm hoá, soi container đảm bảo an ninh bến cảng liên thông hơn giữa những điểm giao nhận hàng trong cùng một khu vực cảng. Cho phép hàng ghi đến một cảng được giải quyết thủ tục Hải quan tại một cảng hoặc địa điểm khác để linh hoạt giảm tải, giảm dồn ứ hàng tại một nơi trong tình hình khó khăn về cơ sở hạ tầng như hiện nay. Có quy định về thủ tục cho hàng container trung chuyển; có phối hợp giữa Hải quan với cảng trong việc chuẩn hoá, xử lý dữ liệu, thông tin trên mạng máy tính, tiến đến việc hình thành mạng thông tin cho cộng đồng vận tải và hàng hải nói chung. 

5. Hoàn chỉnh và nhanh chóng triển khai áp dụng thí điểm cơ chế quản lý kết cấu hạ tầng cảng biển theo hướng hình thành chính quyền cảng cho từng khu vực kinh tế trọng điểm để khắc phục những bất cập hiện nay để phát triển cảng trọng điểm theo quy hoạch một cách có hiệu quả. 

6. Xây dựng lộ trình và biện pháp thực hiện để bình ổn và tiến đến thống nhất giá dịch vụ cảng biển cho dịch vụ vận tải nội địa và quốc tế. Hạn chế trung gian thao túng thị trường và tiêu cực trong dịch vụ hàng hải và vận tải hàng hóa thông qua cảng nói chung. 

7. Rà soát hoàn chỉnh những quy định về an ninh cảng biển thông qua các thông tư hướng dẫn việc kiểm tra, giám sát người và phương tiện ra vào cảng có sự phối hợp hỗ trợ giữa các cơ quan chức năng với doanh nghiệp cảng nhằm đảm bảo an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng biển vừa tạo điều kiện thuận tiện cho hoạt động kinh doanh của các cảng theo thông lệ và công ước quốc tế.

8. Về cơ chế chính sách, đặc biệt về tài chính, đề nghị xem xét áp dụng một số quy chế tạo điều kiện thuận lợi cho các cảng phát triển trong đó có việc duy trì mức thuế GTGT 0% lâu dài hơn, nới lỏng quy định về hợp đồng dịch vụ và mức thu phải hạch toán qua ngân hàng vì rất khó thực hiện đối với những dịch vụ cho tàu nhỏ, thời gian ở cảng ngắn; cho phép hạch toán khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá của các khoản vay đầu tư nước ngoài là chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp; có cơ chế tài chính hỗ trợ cho các cảng di dời đi kèm với quyền sử dụng đất cũ để phát triển dịch vụ thương mại hàng hải cho địa phương. Đối với cảng có tiềm năng cạnh tranh với khu vực thu hút hàng trung chuyển đến cảng qua hành lang kinh tế Đông Tây, hành lang phía Nam cần xem xét thêm khả năng hỗ trợ khác như đơn giản thủ tục quá cảnh, giảm cảng phí để giảm giá thành vận chuyển, cạnh tranh được với các cảng nước ngoài. 

            Kính thưa hội nghị

            Trên đây là báo cáo tóm tắt của Ban Thư ký và kiến nghị chung của Hiệp hội. Kính đề nghị BCH và Hội nghị xem xét, đánh giá, góp ý cụ thể cho các nội dung công tác của Hiệp hội trong thời gian tới. Ban thư ký cũng đề nghị các cảng thành viên tham gia tích cực hơn nữa vào công tác chung của hiệp hội cũng như hỗ trợ cho Ban thư ký thực hiện thành công khối lượng công việc ngày càng nhiều của Hiệp hội trong thời gian tới, đáp ứng được yêu cầu chung và nhu cầu của từng cảng thành viên.

Nhân cơ hội này, Ban thư ký chân thành cám ơn các cơ quan, đơn vị các cá nhân trong và ngoài hiệp hội đã tin tưởng và hỗ trợ tích cực cho Ban thư ký trong việc hoàn thành nhiệm vụ công tác trong thời gian qua. Mong rằng, trong thời gian tới, Ban thư ký sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm hỗ trợ quí báu này cùng với quan hệ phối hợp công tác chặc chẽ và có hiệu quả hơn nữa.

Trân trọng cám ơn và kính chúc sức khoẻ quý vị quan khách và các đại biểu, chúc Hội nghị thành công tốt đẹp./