HIỆP HỘI CẢNG BIỂN VIỆT NAM
BÁO CÁO CỦA BAN CHẤP HÀNH KHÓA VI
TẠI HỘI NGHỊ THƯỜNG NIÊN VPA NĂM 2009
Ngày 09/09/2009 – Tp. Phan Thiết
TÌNH HÌNH CHUNG
Theo nhận định chung, kinh tế của Việt Nam trong năm qua phát triển chậm lại do ảnh hưởng từ suy thoái mang tính toàn cầu. GDP của năm 2009 dự kiến chỉ tăng trưởng trong khoản 5%-6%, giảm khoảng 2% so với năm 2007. Hàng hoá xuất nhập qua cảng trong năm 2008 và đầu năm 2009 cũng tăng chậm lại so với cùng kỳ năm trước nhưng có dấu hiệu hồi phục kể từ Quí 2/2009.
Khối lượng hàng nhập/xuất qua các cảng VPA trong năm 2008 đạt 144 triệu tấn, chỉ tăng khoảng 7% (năm 2007 tăng 20%) thấp hơn mức bình quân các năm trước là 13%, trong đó hàng container đạt hơn 5 triệu TEU tăng 16% (năm 2007 tăng 25%) và vẫn duy trì áp lực nặng nề lên hệ thống cảng biển và giao thông hậu phương tại những khu vực kinh tế trọng điểm. Tại khu vực cụm cảng số 5, do sự hình thành của một số cảng nước sâu tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, đang có sự chuyển dịch hoạt động vận tải biển sử dụng tàu lớn ra khỏi khu vực Tp. HCM. Tại khu vực miền Bắc, cũng đang có xu thế tương tự hướng đến cảng nước sâu hơn cho tàu lớn hơn.
Vấn đề chính của Việt Nam hiện này là cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ và điểm nóng là các bến cảng container như đã dự kiến. Những dự án cảng mới đang được khối doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư xúc tiến nhanh nhưng kết nối giao thông hậu phương cũng như những tiện ích và dịch vụ hỗ trợ kể cả dịch vụ về hàng hải, thông quan hàng hóa, thông tin, tài chính đi kèm cần có kế hoạch đồng bộ và tiến độ thực hiện cụ thể. Vấn đề này hiện đã được Chính phủ quan tâm chỉ đạo sâu sát hơn trước nhưng nguồn vốn đầu tư vẫn còn phải trông chờ vào cơ chế mới - nhà nước và tư nhân cùng làm - và tiến độ thực hiện vẫn cón là mối lo của các nhà đầu tư và cả ngân hàng cho vay vốn.
Tuy vậy, VN đang được xem là thị trường tiềm năng hàng đầu về hàng hải, với vị trí địa dư thuận lợi của mình, hệ thống cảng biển của VN, nếu phát triển nhanh đồng bộ và hội đủ điều kiện, tiêu chuẩn quốc tế sẽ làm thay đổi đáng kể tình hình vận tải container trong khu vực trong thập niên tới.
TÌNH HÌNH CỤ THỂ CỦA KHỐI CẢNG
- Một số sự kiện nổi bật
Việt Nam vẫn duy trì được mức phát triển khá trong suy thoái kinh tế toàn cầu và lần đầu tiên vai trò điều tiết mang tính quyết định của nhà nước bằng nhiều biện pháp quản lý vĩ mô được thừa nhận trong việc cứu vãn nền kinh tế bị khủng hoảng trong cơ chế thị trường.
Tuy tốc độ phát triển kinh tế trong hơn một năm qua có chậm lại nhưng áp lực hàng hoá đặc biệt là container thông qua cảng vẫn cao hơn 16% so với năm trước và lần đâu tiên tại Việt Nam, tàu container lớn của hãng APL và MOL đã được đưa vào Cảng SP-PSA tại Thị Vải và Tân Cảng Sài Gòn Cái Mép để vận chuyển hàng trực tiếp đi Mỹ thay thế các tàu nhỏ và xu thế chuyển dịch nay đang diễn ra ngày càng nhanh với trung tâm điểm là Bà Rịa - Vũng Tàu. Tiếp theo sau là nhiều hãng tàu khác muốn đưa vào các tàu container lớn có chiều dài trên 300M và tải trọng trên 100.000 tấn, vượt mức quy hoạch cũ nên chưa được xét duyệt. Điều này cho thấy hạn chế của cơ sở hạ tầng và tầm nhìn đang và sẽ tiếp tục là trở ngại cho triễn vọng phát triển cảng và hàng hải nói chung và tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, nói riêng
Chủ trương về chiến lược phát triển kinh tế biển đã làm thay đổi tầm nhìn và chiến lược cũng như kế hoạch phát triển của toàn ngành hàng hải và từng doanh nghiệp. Bản thân các địa phương có điều kiện thiên nhiên và thị trường thuận lợi cũng chọn kinh tế biển là một trong những hướng ưu tiên phát triển kinh tế. Tuy nhiên còn nhiều nội dung cần được cân đối và kết hợp giữa trung ương và địa phương để đảm bảo hiệu quả phát triển.
Quy hoạch phát triển cảng biển Việt nam đến 2020 đang được điều chỉnh với tầm nhìn đến 2030, lấy kết cấu hạ tầng làm đòn bẩy phát triển kinh tế.Tuy nhiên, cơ sở dự báo để làm quy hoạch vẫn còn là nội suy dựa vào số liệu quá khứ không có dữ liệu đầy đủ về luồng hàng, thị trường và xu thế phát triển trong tương lai trên pham vi rộng. Việc quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch về phía Nhà nước còn chậm và thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng kịp nhu cầu thị trường và tiến độ đầu tư của khu vực doanh nghiệp. Nói chung, kết cấu hạ tầng giao thông còn chạy theo nhu cầu, chưa thật sự là đòn bẩy phát triển kinh tế.
Di dời các cảng tại Tp. HCM. Song song với qui hoạch phát triển cảng biển khu vực 5, kế hoạch di dời các cảng trong nội đô Tp. HCM mà chủ yếu là Tân Cảng Sài Gòn và Cảng Sài Gòn theo nghị quyết của Bộ Chính trị về qui hoạch phát triển Tp. HCM đến năm 2010 đang được triển khai thực hiện. Cả hai cảng đã hoàn thành được những bước phát triển lớn phục vụ di dời. Tuy nhiên tiến độ di dời Cảng Sài Gòn vẫn còn chưa rõ ràng và đang chờ cơ chế hỗ trợ di dời, đặc biệt là cơ chế tài chính và giao thông kết nối cho khu vực cảng mới.
Đầu tư nước ngoài vào cảng container. Cho đến nay, hầu hết các tập đoàn khai thác cảng và vận tải biển hàng đầu thế giới đã có mặt tại Việt Nam và đã có nhiều dự án xây dựng và khai thác cảng container. Tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, tổng cộng có hơn 8 cảng container lớn có đầu tư nước ngoài dự kiến đưa vào khai thác vào năm 2009-2010. Trong tổng năng lực thông qua trên 16 triệu TEU/năm của các cảng container Việt Nam vào năm 2010, phần vốn đầu tư của nước ngoài chiếm khoảng 45% trong khi quyền quản lý khai thác chiếm hơn 56% tổng năng lực cảng container Việt Nam, tập trung tại khu vực Tp. HCM (SPCT), Cái Mép, Thị Vải (PSA, APMT, SSA, Hutchison, CMA-CGM).
Cảng Cần Thơ và luồng Định An.Đồng bằng Sông Cửu Long với vai trò và đóng góp chính về nông nghiệp cho nền kinh tế đã và đang được chính phủ đầu tư phát triển cảng trọng điểm với qui mô phù hợp cho khu vực, trong đó Cảng Cần Thơ và Cảng Cái Cui được xem là cảng trung tâm. Luồng Định An sau này được cải tạo qua Kênh Chánh Bố cho tàu 10.000 tấn ra vào được hy vọng là sẽ tạo bước ngoặc cho việc thu hút tàu hàng nước ngoài trực tiếp đến cảng.
Cầu Phú Mỹ. Giới hạn chạy tàu với độ tỉnh không thấp (37,75M) trong giai đoạn thi công cầu Phú Mỹ qua sông Sài Gòn tại Tp. HCM đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của các cảng đầu nguồn. Nhiều hãng tàu đã chuyển sang Cảng Cát Lái. Trong 6 tháng đầu năm 2009, các cảng đầu nguồn là Cảng Sài Gòn, VICT, Bến Nghé mất đi khoảng 150.000 TEU qua Cảng Cát Lái tương đương với trên 6 triệu USD doanh thu.
Luång l¹ch vµo c¸c c¶ng khu vùc H¶i phßng sau nhiÒu n¨m kh«ng ®îc duy tu thêng xuyªn nªn ngµy cµng c¹n dÇn ®· ¶nh hëng kh«ng nhá ®Õn ho¹t ®éng khai th¸c C¶ng ë khu vùc nµy, lµm t¨ng chi phÝ chuyÓn t¶i cho chñ hµng, chñ tµu vµ gi¶m hiÖu qu¶ ®Çu t cña c¸c c¶ng, do luång tµu thiÕt kÕ vµo c¶ng §×nh Vò cho tµu 20.000 DWT, nhng hiÖn nay chØ ®¹t ®é s©u cho tµu 10.000 DWT, trong khi c¸c c¶ng dÒu thiÕt kÕ, x©y dùng cho tµi 20.000 DWT.
2.2 Kết quả kinh doanh khai thác cảng
Về tình hình hoạt động của các cảng thành viên, thống kê sản lượng hàng hóa thông qua các cảng trong 4 năm 2005-2008 phân theo từng khu vực được tổng hợp trong Phụ lục A.
Số liệu này cho thấy tổng sản lượng thông qua 49 cảng thuộc VPA trong năm 2008 đạt gần 144 triệu tấn, chỉ tăng 7,3 % so với năm 2007 (năm 2007 tăng 20%), trong đó hàng container có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn là 15% (năm 2007 tăng 25%) và đạt gần 5 triệu TEU trong đó các cảng khu vực Tp. HCM chiếm hơn 68% sản lượng container của cả nước.
Các cảng Miền Bắc có tốc độ tăng trưởng về hàng hóa là +27% nhanh hơn nhiếu so với năm 2007 (+16%) trong đó hàng container tăng 28% với sản lượng container tăng nhanh của Cảng Đình Vũ (78%), Cảng Đoạn Xá (+43%), Transvina (26%), Hải Phòng (+18%). Trong đó, hàng container đến các cảng nước sâu như Đình Vũ tăng nhanh hơn.
Tại khu vực miền Trung, hàng hóa thông qua các cảng nói chung không tăng (năm trước tăng +21%) nhưng container tăng 19% (năm trước tăng +28%).
Tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam mà chủ yếu là khu vực Tp. HCM, tổng lượng hàng thông qua cảng đạt gần 59 triệu tấn giảm 13% (năm trước tăng +21%) trong khi lượng hàng container đạt 3,4 triệu TEU, tăng 11% (năm trước tăng 30%). Riêng Tân Cảng Sài Gòn đạt sản lượng hơn 2 triệu TEU.
Tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, hàng hoá thông qua năm 2008 tăng đột biến 226% và đạt hơn 10 triệu tấn qua Cảng Cần Thơ và các cảng mới như Trà Nóc, Cái Cui. Cảng Mỹ Thới có hàng container cao nhất khu vực đồng bằng.
Về tỷ lệ hàng nhập xuất thông qua các cảng VPA trong năm 2008 cho thấy hàng nội địa tăng nhanh thay cho hàng nhâp xuất khẩu..Trong năm 2008, xuất khẩu tăng và vượt nhập khẩu về khối lượng hơn 7 triệu tấn không kể dầu thô. Hàng nội địa tăng nhanh từ tỷ trọng 24% lên 30% tổng lượng hàng thông qua cảng. Trong năm 2008, cán cân thương mại của Việt Nam xuất siêu về khối lượng nhưng lại nhập siêu về giá trị do cơ cấu mặt hàng nhập có giá trị cao hơn nhiều so với hàng xuất.
Nhìn chung, trong năm 2008, trong số 49 cảng thành viên hiệp hội có 4 cảng đạt sản lượng trên 10 triệu tấn, 28 cảng đạt sản lượng trên 1 triệu tấn, thêm 2 cảng mới từ dưới 1 triệu tấn/năm đã vượt ngưỡng 2 triệu tấn/năm là Trà Nóc và Cái Cui ở Cần Thơ. Sản lượng bình quân của 49 cảng là gần 2,9 triệu tấn/cảng/năm, bình quân tăng 140.000 tấn mỗi cảng..
đánh giá HOẠT ĐỘNG TRONG THỜI GIAN QUA
3.1 Những nội dung công tác chính đã thực hiện
Căn cứ vào nghị quyết của Đại hội VI, BCH khóa VI đã chỉ đạo các hoạt động của Hiệp hội trong năm 2007-2009, bao gồm:
Thực hiện tốt các công tác của Hiệp hội liên quan đến hội viên, hội phí
Tham mưu cho nhà nước và ngành về những vấn đề quan trọng của khối cảng
Thống nhất một số biện pháp để bình ổn giá dịch vụ cảng biển
Phổ biến thông tin chuyên ngành
Duy trì và phát triển các quan hệ đối ngoại kể cả việc tham gia tích cực các sinh hoạt do Hiệp hội Cảng biển ASEAN (APA).
Hợp tác phát hành thành công tạp chí Shipping Times
Tình hình hoạt động và kế hoạch công tác đề nghị cụ thể sẽ được trình bày trong báo cáo của Ban Thư ký.
3.2 Một số tồn tại chính
Ngoài những kết quả đáng khích lệ nêu trên, những tồn tại chính của Hiệp hội có thể kể là:
- Vai trò của Hiệp hội trong việc tham gia giải quyết những vấn đề, khó khăn chung, bảo vệ quyền lợi cũng như hỗ trợ cho các cảng thành viên tuy có kết quả tốt nhưng vẫn còn hạn chế, đặc biệt là trong việc góp phần ổn định thị trường, chuẩn hóa chất lượng dịch vụ cảng, tham gia góp ý về qui hoạch và hỗ trợ thực hiện qui hoạch.
- Ban Chấp hành cần họp thường xuyên hơn và phân công giải quyết những mảng công tác lớn của Hiệp hội. Các tiểu ban công tác cần tích cực hơn nữa trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác được giao.
- Việc tham gia của các cảng thành viên vào các chương trình hoạt động hợp tác của các cảng khu vực ASEAN còn hạn chế. Theo yêu cầu và xu thế chung hiện nay, Hiệp hội cần đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác với khối cảng ASEAN và quốc tế để tạo điều kiện cho các cảng phát triển nguồn nhân lực và hội nhập kinh tế một cách chủ động hơn.
- Còn có thể làm tốt hơn về phát triển nguồn nhân lực cho khối cảng, phổ biến thông tin tài liệu kỹ thuật, thông tin hướng dẫn về tiếp thị, quan hệ đối ngoại, quảng cáo cho Hiệp hội cũng như hội viên.
- Có thể huy động thêm khả năng đóng góp của các chuyên viên, cộng tác viên bên ngoài vào các chương trình công tác của Hiệp hội.
- Phối hợp với các hội ngành nghề liên quan khác trong việc giải quyết những vấn đề chung, đặc biệt là những công việc của cộng đồng hàng hải.
Mặt dầu đã có được một số thành quả nhất định, Hiệp hội cần phải năng động và sâu sát hơn nữa trong việc thực hiện những mục tiêu đề ra trong Điều lệ, đáp ứng được nguyện vọng và nhu cầu thiết thực của toàn thể hội viên.
Nói chung, Hiệp hội Cảng biển Việt Nam đã hoạt động có hiệu quả trong hơn 15 năm qua và thể hiện được vai trò tích cực của mình với sự tham gia đóng góp của BCH và toàn thể các cảng thành viên cùng sự quan tâm hỗ trợ của các cấp, các ngành.
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NỘI DUNG CÔNG TÁC TRONG THỜI GIAN TỚI
Một mặt, Hiệp hội cần tiếp tục tổ chức thực hiện tốt hơn nữa những nội dung công việc đã làm trong thời gian qua và tìm biện pháp hữu hiệu để tích cực giải quyết những hạn chế, tồn tại đã nêu. Cụ thể là có kế hoạch và biện pháp để làm tốt hơn các công tác sau đây:
- công tác phát triển hội viên, quản lý hội phí;
- Tham mưu cho nhà nước và ngành về những vấn đề quan trọng của khối cảng;
- Thống nhất một số biện pháp để bình ổn giá dịch vụ cảng biển;
- Tranh thủ các nguồn tài trợ kết hợp với nguồn lực tự có để tăng cường phát triển nguồn nhân lực bằng các khóa đào tạo, xê-mi-na, tham quan cho khối cảng;
- Phổ biến thông tin chuyên ngành, tăng cường hợp tác, trao đổi, thông tin trực tuyến thông qua trang web và tạp chí của VPA, biên soạn tài liệu kỹ thuật;
- Thu thập phổ biến và kể cả huy động chuyên gia bên ngoài để tư vấn giải quyết những yêu cầu nghiên cứu chung và đánh giá, hình thành những chuẩn mực về quản lý và khai thác cảng theo hướng tiếp cận nhanh với chuẩn mực quốc tế ;
- Duy trì và phát triển các quan hệ đối ngoại. Tham gia tích cực các sinh hoạt của Hiệp hội Cảng biển ASEAN (APA), hiệp hội cảng biển quốc tế (IAPH);
- Tăng cường công tác thông tin tiếp thị, xúc tiến thương mại cho khối cảng;
- Phối hợp với các hiệp hội liên quan trong nước và nước ngoài để giải quyết những vấn đề chung, kể cả những yêu cầu để phát triển cộng đồng cảng;
- Làm tốt công tác tổng hợp thống kê, đánh giá tình hình khai thác và phát triển cảng thường xuyên và chi tiết hơn.
Nội dung công việc cụ thể và dự trù kinh phí cho năm 2010 được trình bày chi tiết trong báo cáo công tác và đề xuất của Ban Thư ký.
Trong quá trình thảo luận, BCH đề nghị toàn thể hội viên có ý kiến đóng góp cho những nội dung nêu trên bao gồm những công tác đã thực hiện trong thời gian qua, những tồn tại chính đã nêu làm cơ sở cho chương trình và nội dung hoạt động của hiệp hội trong thời gian tới và đặc biệt là những kiến nghị đối với Nhà nước và các cơ quan chức năng khác.
Ngoài ra, một nội dung quan trọng của Hội nghị lần này là bàn bạc phương thức phối hợp giữa các cảng thành viên để giải quyết những vấn đề chung, tổ chức thực hiện thành công nhiệm vụ công tác của hiệp hội trước những thách thức to lớn của khối cảng Việt Nam trong giai đoạn suy thoái kinh tế, làm sao để đổi mới, phát triển và hội nhập thành công, đưa khối cảng thành mũi nhọn của kinh tế biển Việt Nam.
KiẾn nghỊ VỚI NHÀ NƯỚC VÀ NGÀNH HÀNG HẢI
Căn cứ vào những phương hướng, chủ trương chính sách cơ chế đối với khối cảng VN và ý kiến của các cảng thành viên, hiệp hội có một số kiến nghị chính sẽ được trình bày trong báo cáo của Ban Thư ký.
Hiệp hội Cảng biển Việt Nam chân thành cám ơn các cơ quan chức năng của Nhà nước đã quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện cho hiệp hội hoạt động và hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác của mình trong thời gian qua và mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm và hỗ trợ này, tạo điều kiện cho hiệp hội làm tốt chức năng và nhiệm vụ của mình đối với ngành nói chung và phục vụ có hiệu quả cho lợi ích của các cảng thành viên nói riêng trong giai đoạn đổi mới, phát triển và hội nhập đầy khó khăn và thử thách trong những năm tới.
KẾt luẬn
Kính thưa quí vị quan khách, quí vị đại biểu.
Trên đây là một số nhận định tình hình và một số kiến nghị, công việc cụ thể dự kiến thực hiện trong thời gian tới của BCH. Đề nghị các đại biểu thảo luận, bổ sung, thống nhất và tích cực tham gia để phát huy hơn nữa vai trò của VPA, đặc biệt là vai trò tham mưu cho nhà nước và ngành hàng hải, đồng thời phục vụ hữu hiệu hơn cho các nhu cầu cụ thể của cảng thành viên trong thời gian tới, tạo chuyển biến lớn để chuẩn bị hành trang đầy đủ cho khối cảng VN chủ động đổi mới, bước vào thời kỳ hội nhập và cạnh tranh quốc tế.
Thay mặt cho BCH tôi chân thành cám ơn tất cả các đồng chí lãnh đạo, các cơ quan Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, VP Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ GTVT, Bộ Tài chính, Cục Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam và cơ quan chức năng của ngành, địa phương, các hiệp hội nghành nghề bạn, các đơn vị khác trong ngành, các cơ quan thông tin đại chúng đã quan tâm hỗ trợ cho hoạt động và cho sự phát triển của Hiệp hội; cám ơn các cảng thành viên Hiệp hội đã tin tưởng và hỗ trợ tích cực cho BCH và Ban Thư ký trong việc giải quyết các vấn đề và công việc chung của Hiệp hội trong thời gian qua. Có thể nói sức mạnh của Hiệp hội phải được thể hiện ở năng lực tham mưu, giải quyết những vấn đề lớn của khối cảng trên nền tảng của sự đoàn kết và tham gia tích cực của toàn thể các hội viên.
Tôi xin cám ơn lãnh đạo chính quyền địa phương tỉnh Ninh Thuận, Tp. Phan Thiết đã tạo điều kiện cho hiệp hội tổ chức hội nghị thường niên tại thành phố biển và đến tham gia, phát biểu tại hội nghị; cám ơn lãnh đạo và Ban tổ chức Công ty Tân Cảng Sài Gòn đã có chuẩn bị chu đáo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành Hội nghị thường niên VPA năm 2009.
Tôi cũng chân thành cám ơn các đơn vị tài trợ cho việc tổ chức hội nghị VPA năm nay với các nhà tài trợ chính là Ardelt & Kocks / Kranunion và các nhà tài trợ khác là Công ty Stinis Singapore Pte Ltd., Unico Handels GmbH / Gottwald Port Technology, Liebherr Werk Nanzing GmbH, Realtime Business Solutions Pty. Ltd., Total Soft Bank Ltd., Zebra Enterprise Solutions, Wah Seong Corporation Berhad, Cai Mep International Terminal CMIT, Eagle Pacific - Konecranes, China Merchants Group, Gensoft Company Ltd., Penta-Ocean Construction Co., Ltd., TOYO Construction, Tân Vĩnh Lộc, Công ty vận tải biển quốc tế Vinashin, Công ty VT biển Á Mỹ, Ô. Bảo Hòa / Harley Marine Services trong đó có nhiều công ty đã có quan hệ mật thiết và lâu dài với khối cảng cũng như đã có những hỗ trợ quí báu và liên tục cho hoạt động của Hiệp hội trong nhiều năm qua. Cám ơn Ban biên tập tạp chí Shipping Times đã tập trung nỗ lực trong thời gian ngắn, ra được tạp chí chuyên đề để chào mừng Hội nghị thường niên năm 2009 Hiệp hội Cảng biển Việt Nam.
Kính thưa quí vị quan khách, quí vị đại biểu.
Hiệp hội Cảng biển Việt Nam đã có hơn 15 năm hoạt động có hiệu quả trong sự quan tâm hỗ trợ của các cấp các ngành có liên quan và sự đóng góp tích cực của các cảng hội viên, của nhiều đơn vị và cá nhân bên ngoài. Chúng ta đã tạo được một nền tảng vững chắc về các mặt cho việc thực hiện thuận lợi nhiệm vụ của hiệp hội trong nhiệm kỳ tới và thập kỷ tới, một giai đoạn mang tính bước ngoặc của lịch sử đưa đất nước đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế biển là một trong những mũi nhọn. Vai trò và trách nhiệm ngày càng quan trọng hơn của khối cảng VN đòi hỏi từng thành viên phải thể hiện vai trò tích cực, tiên phong hơn nữa, góp phần tích cực nhất của mình cho sự phát triển nhanh và đúng hướng của ngành hàng hải và tham gia giải quyết những vấn đề chung trong nước và quốc tế có liên quan đến khối cảng.
Với đánh giá và mong muốn nêu trên, một lần nữa, tôi xin cám ơn tất cả quí vị. Kính chúc quí vị quan khách, quí vị đại biểu sức khỏe và đạt được nhiều thắng lợi mới. Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp./ |