Hoạt động của VPA
  Hội nghị và văn kiện
  Bản báo cáo
  Diễn văn
  ESCAP
  ASEAN
  APA
  WTO
  IMO
  UNCTAD
  APEC
  IAPH
  Các tổ chức quốc tế ở Việt Nam
 
 
 



Báo cáo tham luận của Cảng Quy Nhơn

tại Đại hội lần thứ VI - Hiệp hội Cảng biển Việt Nam

Tp. Vũng Tàu, 08-09/11/ 2007

_______________________________________

Chủ động phát huy nội lực, đáp ứng kịp thời phục vụ

phát triển kinh tế - xã hội khu vực.

 

Kính thưa quí vị đại biểu, thưa tòan thể Đại hội.

          Trước hết, cho phép tôi thay mặt CBCNV Cảng Quy Nhơn, gửi đến quý vị quan khách, quí vị đại biểu và toàn thể Đại hội lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống. Chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

          Kính thưa tòan thể Đại hội.

          Trong năm qua, theo nhận định chung, mặc dù tình hình kinh tế khu vực và thế giới đang có chiều hướng chuyển biến phức tạp nhưng kinh tế của Việt Nam vẫn phát triển ổn định theo chiều hướng thuận lợi. Tăng trưởng GDP xấp xỉ 8%/năm, khối lượng hàng nhập/xuất tăng bình quân gần 12%/năm trên phạm vi toàn quốc. Riêng hàng cont tăng bình quân 16%/năm. Với năng lực cảng biển Việt Nam hiện nay, đặc biệt tại một số khu vực, nếu không đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng cảng biển thì trong thời gian tới tàu sẽ phải xếp hàng chờ bốc xếp hàng xuất, nhập khẩu. Thời gian chờ đợi lâu sẽ làm tăng chi phí của các doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh quốc tế giảm, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.  

          Đối với miền Trung và Tây Nguyên, cơ cấu kinh tế khu vực tiếp tục có sự chuyển dịch nhanh chóng, diện tích trồng cây công nghiệp chế biến, cây công nghiệp dài ngày và vùng nguyên liệu được quy hoạch tăng lên. Bên cạnh đó, kinh tế Bình Định, địa bàn cảng đứng chân, có những bước phát triển khá. Khu kinh tế Nhơn Hội, một trong 4 khu kinh tế mở của khu vực, bước đầu đi vào hoạt động, các dự án đầu tư được triển khai, đã thu hút một lượng lớn hàng hóa qua Cảng Quy Nhơn.

          Cảng Quy Nhơn được quy hoạch là cảng trọng điểm của khu vực Nam Trung Bộ, do có điều kiện thuận lợi về mạng lưới giao thông đồng bộ nên ngoài việc phục vụ cho các tỉnh Bình Định – Phú Yên – Nam Quảng Ngãi, Cảng Quy Nhơn còn là một điểm đến thu hút phần lớn lượng hàng hóa các tỉnh Bắc Tây Nguyên. Đến nay, quốc lộ 18B (Lào) đã hoàn thành, nối các tỉnh Nam Lào với Việt Nam qua của khẩu Bờ Y (Kon tum), nối quốc lộ 14 và 19 của Việt Nam. Trục đường Đông Tây này có ý nghĩa quan trọng với hàng chục triệu người dân cả 3 nước, tạo tiền đề phát triển kinh tế, xã hội của một khu vực giàu tiềm năng và thế mạnh; đây cũng là điều kiện thuận lợi để Cảng Quy Nhơn tiếp cận với những khách hàng quốc tế, cũng như lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu đa dạng, phong phú.

Tình hình đầu tư phát triển CSHT của Cảng Quy Nhơn thời gian qua:

          Theo quyết định số 148/2004/QĐ-TTg- ngày 13/08/2004 của Thủ tướng chính phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 đã dự kiến đến năm 2010, sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 4 triệu tấn/năm. Công suất thiết kế của cảng hiện tại là 2,2 triệu tấn/năm. Năm 2006, hàng hóa thông qua đạt 2.671.000 tấn, vượt công suất thiết kế 22%. Dự kiến năm 2007, đạt trên 3 triệu tấn hàng hóa, vượt công suất thiết kế đến 40 %.

          Các dự án nâng cấp, phát triển cảng giai đoạn 1995 – 2000 và giai đoạn 2001 – 2003 đã được điều chỉnh lại năm 2006 sử dụng vốn ngân sách cấp có tổng giá trị là 250,3 tỷ đồng, cho công suất thiết kế 2,2 triệu tấn/năm. Song cho đến nay mới thực hiện được một số hạng mục, nhưng không đồng bộ, giá trị đầu tư bằng vốn ngân sách là 132 tỷ đồng. Trong quá trình thực hiện dự án, cảng đã chủ động phát huy nội lực, huy động các nguồn vốn để đầu tư bổ sung cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị, công cụ xếp dỡ có trọng tâm, trọng điểm nhằm không ngừng nâng cao năng suất giải phóng tàu. Nhờ đó, Cảng Quy Nhơn đã có những thiết bị cơ bản đáp ứng được mọi nhu cầu của chủ tàu, chủ hàng có hàng hóa thông qua cảng, đảm nhận được một lượng hàng hóa tăng nhanh, không để xảy ra ách tắc, tạo được uy tín với khách hàng. Với giá trị tài sản hiện có thì vốn nhà nước đầu tư trực tiếp chỉ chiếm 42%, của doanh nghiệp tự huy động là 58%.

          Đồng thời với việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, Cảng Quy Nhơn không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý, điều hành sản xuất, phát huy các sáng tạo trong lao động. Đã có hàng trăm sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất được áp dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao, trong đó có nhiều sáng kiến được giải thưởng của ngành. Việc áp dụng đã làm lợi cho doanh nghiệp mỗi năm hàng tỷ đồng, giúp khai thác tốt hơn các trang thiết bị hiện có, giảm chi phí đầu tư mới, tập trung được nguồn lực đầu tư cho các mục tiêu trọng điểm.

          Thường xuyên thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của nhà nước và của ngành. Hàng tháng, quý, năm đều có tổng kết đánh giá kết quả thực hành tiết kiệm, có số liệu cụ thể, đảm bảo chi phí hoạt động ở mực độ phù hợp, nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

          Từ năm 2003, Cảng Quy Nhơn đã xây dựng, được chứng nhận và áp dụng thành công hệ thống quản lý quốc tế chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, từ đó đã nâng cao uy tín của Cảng Quy Nhơn đối với các chủ hàng, chủ tàu, các đại lý và đơn vị môi giới hàng hải. Đã triển khai và thực hiện tốt công tác an ninh cảng biển, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự trị an trong khu vực.

          Ngoài ra, Cảng Quy Nhơn cũng đã từng bước áp dụng các biện pháp để cải tiến khâu quản lý, vì đây là khâu quan trọng quyết định chất lượng dịch vụ, theo hướng tiếp cận nhanh với thị trường, mở rộng giao tiếp nội bộ, giao tiếp với khách hàng, xử lý thông tin nhanh, chính xác và an toàn hơn, giảm bớt các thủ tục giấy tờ…Hiện nay, Cảng Quy Nhơn đã khẳng định được vị trí của một cảng biển thu hút nhiều nhất các loại hàng hóa lưu thông bằng đường biển của các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, và đang mở ra những điều kiện thuận lợi để thu hút hàng hóa của các nước dọc tuyến hành lang Đông Tây.

          Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển thì cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị kỹ thuật của Cảng Quy Nhơn nhìn chung vẫn còn thiếu và yếu. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực hơn, phát huy nội lực nhiều hơn nữa, cũng như tập hợp được các nguồn lực bên ngoài đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại, đảm bảo mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững.

          Kính thưa tòan thể Đại hội.

          Thời gian đến, theo dự báo, lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam năm 2010 sẽ là 265 triệu tấn/năm, năm 2020 là 480 triệu tấn/năm. Đối với khu vực miền Trung, đang có những đổi mới đáng kể, trước hết là các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư của Đảng và Nhà nước dành cho khu vực, đồng thời với tiềm năng sẵn có chẳng những trong nước mà còn có sự liên kết giữa các nước trong khu vực hành lang Đông Tây, sẽ có nhiều cơ hội phát triển nhanh hơn.

          Đón đầu những cơ hội mới, tiếp tục đưa cảng phát triển mạnh hơn, hội nhập sâu rộng hơn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, Cảng Quy Nhơn cần phải giải quyết nhu cầu cấp thiết đó là không ngừng nâng cấp cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa các trang thiết bị mới phù hợp với thực tế hiện nay cũng như trong tương lai.

          Để giải quyết những khó khăn hiện nay và đáp ứng yêu cầu phát triển trong khi nhà nước không tiếp tục đầu tư, Cảng Quy Nhơn đã chủ động tiến hành lập dự án xây dựng mới một cầu tàu container 30.000 DWT đạt tiêu chuẩn quốc tế, bãi công nghệ sau cầu cùng các trang thiết bị xếp dỡ hiện đại, với tổng mức đầu tư khoảng 300 tỷ đồng. Được sự đồng ý về mặt chủ trương của cấp trên, Cảng đã huy động mọi nguồn lực, trong đó nguồn vốn chủ yếu là vốn tự bổ sung của cảng và vốn góp của CBCNV để thành lập một công ty cổ phần thực hiện dự án này. Dự kiến đến năm 2009 sẽ đưa vào khai thác. Đồng thời cảng đã có kế hoạch đầu tư mạnh mẽ hơn cho chương trình phần mềm quản lý, khai thác cảng, về lâu dài tiến đến một hệ thống quản lý tự động hóa có kiểm soát, cung ứng thông tin và dịch vụ qua mạng.

Một số bài học kinh nghiệm của doanh nghiệp rút ra từ thực tiễn:

          Doanh nghiệp đã tích cực, chủ động tìm hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế, không hoàn toàn ỷ lại vào nguồn ngân sách cấp. Dự đoán chính xác nguồn hàng, tập trung đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật có trọng điểm, đã không ngừng nâng cao năng suất xếp dỡ, giải phóng tàu nhanh, giảm bớt áp lực về cầu bến.

          Gắn kết lợi ích của doanh nghiệp với người lao động, phát huy tính tự chủ, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. Khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất hiện có, nâng cao ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí bằng các chương trình cụ thể nên đã tích lũy nguồn vốn cần thiết để đầu tư.

          Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xem người lao động là nguồn lực phát triển chính cho doanh nghiệp. Công tác đào tạo chuyên sâu được chú trọng, mang tính kế thừa, đảm bảo nhân lực ổn định ở bộ phận sản xuất trực tiếp và nhân lực có trình độ chuyên môn tốt ở bộ phận quản lý, điều hành.

Một số đề xuất:

          Trong quá trình kinh doanh khai thác cảng, luôn có những biến động liên tục về số lượng và chủng loại hàng hóa dẫn đến những thay đổi về cơ sở vật chất kỹ thuật cho phù hợp, nhằm đạt năng suất cao và hiệu quả trong kinh doanh. Vì vậy, cảng cần nắm giữ một nguồn lực nhất định mới chủ động giải quyết kịp thời. Đề nghị nhà nước có những cơ chế, chính sách sát thực, ổn định, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp cảng xử lý các tình huống trong quá trình kinh doanh - khai thác. Hạn chế đến mức tối đa cơ chế xin - cho.

          Hiệp hội Cảng biển Việt Nam là một trong những hiệp hội được thành lập sớm, có tổ chức chặt chẽ, hoạt động rất quy củ. Trong hiệp hội có nhiều cán bộ đương chức và lão thành nhiều kinh nghiệm trong hoạt động của ngành hàng hải nói chung và cảng biển nói riêng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, tiếng nói của hiệp hội đối với nhà nước, với ngành chưa có tác dụng tích cực như các chính sách, cơ chế, quy hoạch, quản lý cảng…Vì vậy, các cảng cũng rất lúng túng, không chủ động được định hướng phát triển trong khi nhu cầu thì rất lớn. Đồng thời, đề nghị hiệp hội có biện pháp giúp đỡ các cảng thành viên về đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh hợp tác, phát triển quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế.

          Trên đây là báo cáo tham luận của Cảng Quy Nhơn tại Đại hội lần thứ VI Hiệp hội cảng biển Việt Nam năm 2007.

          Kính chúc quý vị đại biểu sức khỏe và hạnh phúc, chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

          Xin trân trọng cảm ơn.