Phát biểu của tổng công ty hàng hải việt nam
Tại hội nghị thường niên vpa năm 2008
(Nha Trang, ngày11/9/2008)
_______________________________________
Tôi rất vui mừng được thay mặt Tổng công ty Hàng hải Việt Nam dự Hội nghị thường niên năm 2008 của Hiệp hội Cảng biển Việt Nam tại thành phố Nha Trang - Khánh Hòa, một tỉnh đang có nhiều dự án sôi động về Du lịch, đầu tư xây dựng cảng có tầm cỡ khu vực và quốc tế. Thay mặt Lãnh đạo Tổng công ty Hàng hải Việt Nam xin gửi tới Quý vị đại biểu và toàn thể hội viên của Hiệp hội Cảng biển Việt Nam lời chúc sức khỏe và lời chào trân trọng nhất.
Kính thưa Quý vị Đại biểu!
Thưa toàn thể các đồng chí!
Thời gian trôi đi quá nhanh, sau gần một năm kể từ ngày tổ chức Đại hội Hiệp hội Cảng biển Khóa VI tại Vũng Tàu, chúng ta thấy rằng Hiệp hội đã phối hợp giải quyết rất nhiều việc trong thời gian qua. Tôi nhất trí với đánh giá của Ban chấp hành về hoạt động của Hiệp hội và từng thành viên của Hiệp hội trong năm qua và phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới mà báo cáo đã nêu. Mặc dù, thành viên tham gia Hiệp hội có tăng, nhưng so với số lượng các cảng còn ít, các thành viên của Hiệp hội đã là nòng cốt của nhóm cảng trong từng khu vực. Hoạt động của Hiệp hội không chỉ gắn kết các thành viên trong nước với nhau mà còn mở rộng quan hệ với Hiệp hội của các nước trong khu vực và cung cấp các thông tin về khoa học công nghệ cho các Hội viên học hỏi, áp dụng. Hiệp hội Cảng biển Việt Nam trong năm qua đã làm tốt nhiệm vụ của mình, gắn kết được các thành viên trong nước và từng bước mở rộng hoạt động ra khu vực và quốc tế, nhất là sự phối hợp hoạt động với các Hiệp hội cùng ngành để giúp các Hội viên thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực đầu tư, khai thác cảng. Tổng công ty Hàng hải Việt Nam chân thành cám ơn sự hỗ trợ của Hiệp hội Cảng biển trong năm qua và mong tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của Hiệp hội trong những năm tới.
Cùng với hoạt động của các ngành kinh tế, vận tải biển và hệ thống cảng biển quốc gia giữ vai trò là cầu nối về giao thông hàng hải nội địa và giữa nước ta với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế cũng như hoạt động thương mại của Việt Nam. Trong công cuộc CNH, HĐH ở nước ta hiện nay, việc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, đặc biệt là đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá giữ một vai trò hết sức quan trọng. Để có thể thúc đẩy mạnh mẽ quá trình lưu thông, XNK hàng hoá, thì việc phát triển một đội tàu vận tải biển đủ mạnh, một hệ thống cơ sở hạ tầng cảng biển hiện đại và hệ thống dịch vụ hàng hải hoàn chỉnh là nhiệm vụ cốt yếu, vì trên 90% hàng hoá XNK nước ta được vận chuyển bằng đường biển.
Trên cơ sở Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 của Đảng, chương trình hành động của Chính phủ đề ra, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước và xu hướng phát triển thị trường hàng hải thế giới thì nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra cho đất nước chúng ta trong giai đoạn tới là rất lớn, cần có sự bứt phá trong đầu tư phát triển cảng biển thì mới góp phần đáng kể vào sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân.
Theo kết quả kiểm tra của Đoàn kiểm tra quy hoạch hệ thống cảng biển VN năm 2007 của Chính phủ do Thứ trưởng Bộ GTVT Trần Doãn Thọ dẫn đầu cho thấy: Hệ thống Cảng biển Việt Nam hiện nay có 160 bến cảng, 305 cầu cảng với tổng chiều dài tuyến bến đạt 36,164km. Các cảng biển Việt Nam hiện do rất nhiều Bộ, Ngành, Doanh nghiệp, Địa phương, Khu quản lý công nghiệp, Khu kinh tế đầu tư, quản lý và khai thác. Trong khi đó, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam hiện chỉ quản lý và khai thác 11 cảng với số cầu bến là 65 có chiều dài tuyến bến là 9,5km. Bao gồm các cảng: Cái Lân (Quảng Ninh), Hải Phòng, Cảng Đoạn Xá, Vật Cách, Transvina, Viconship (ở Tp Hải Phòng); Đà Nẵng (Tp ĐN); Ba Ngòi (Khánh Hòa); Sài Gòn (Tp HCM); Cần Thơ, Cái Cui (Tp Cần Thơ).
Với đặc điểm chung của Hệ thống cảng biển Việt Nam thì các cảng hiện do Tổng công ty HHVN quản lý và khai thác cũng nằm trong tình trạng chung của Hệ thống cảng biển VN:
- Hầu hết cảng biển của Tổng công ty có luồng tàu dài, độ sâu cầu cảng hạn chế. Mặc dù Việt Nam nằm gần trục đường hàng hải quốc tế với nhiều vị trí xây dựng và phát triển cảng, nhưng thực tế phần lớn các cảng biển Việt Nam lại nằm sâu trong các sông. Luồng tàu dài, độ sâu luồng hạn chế, nên chi phí khai thác, nạo vét cao dẫn đến khả năng tiếp nhận tàu lớn hạn chế, tăng chi phí cho chủ tàu, chủ hàng. Các cảng hiện nay do Tổng công ty quản lý thì hai cảng lớn nhất là Sài Gòn và Hải Phòng lại nằm sâu trong sông. Cảng Hải Phòng có luồng dài khoảng 40km, Cảng Sài Gòn có luồng dài hơn 80 km.
- Cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ. Các cảng đều có phần lớn cầu bến nằm trong khu đô thị chật hẹp và đông đúc nên hạn chế về giao thông sau cảng, hạn chế về quỹ đất để phát triển hệ thống kho bãi hậu phương.
- Thiếu các trang thiết bị xếp dỡ hiện đại, năng suất xếp dỡ còn thấp. Phần lớn các cảng của Tổng công ty hiện nay vẫn là cảng tổng hợp được cải tạo hoặc xây dựng mới với một số bến container như Cảng Cái Lân, Cảng Hải Phòng và Cảng Sài Gòn. Thiết bị xếp dỡ hiện đại, đặc biệt là hệ thống cần cẩu giàn bốc xếp container còn thiếu, nên năng suất xếp dỡ chưa cao.
- Công tác quản lý kinh doanh khai thác cảng nhìn chung còn chưa năng động, việc áp dụng công nghệ thông tin, trao đổi dữ liệu điện tử EDI chưa được phổ biến rộng rãi: Các cảng trong Tổng công ty đều là các cảng lớn hình thành từ nhiều năm trước đây, có đội ngũ công nhân bốc xếp đông đảo với bề dày kinh nghiệm. Những năm gần đây, hầu hết các cảng lớn đều tăng cường đầu tư, trang bị hệ thống mạng, máy tính nhưng vẫn chưa ứng dụng thực sự có hiệu quả vào việc tổ chức sử dụng thông tin và quản lý khai thác cảng. Một số cảng đã ứng dụng các biện pháp để quản lý kinh doanh theo dạng tiếp cận nhanh với thị trường, mở rộng giao tiếp nội bộ, giao tiếp với khách hàng thông qua mạng máy tính để xử lý thông tin nhanh hơn, an toàn hơn và giảm các thủ tục giấy tờ. Tuy nhiên, so với trình độ tổ chức quản lý và trang bị hiện nay trên thế giới và trong khu vực vẫn còn có một khoảng cách xa để có thể tiến đến một hệ thống tiếp thị kinh doanh tự động hóa có kiểm soát, áp dụng rộng rãi EDI, cung ứng dịch vụ qua mạng.
- Chưa có cảng nước sâu giữ vai trò cảng trung chuyển quốc tế. Việc chưa tiến hành xây dựng được các cảng trung chuyển quốc tế có thể tiếp nhận được các tàu container có trọng tải lớn đã làm cho hàng hoá XNK của Việt Nam phải trung chuyển qua các cảng trong khu vực như Hồng Kông, Singapore, làm tăng thêm chi phí vận chuyển tới 20 - 30%.
- Các cảng trong Tổng công ty mới chỉ hoàn thành được chức năng cung cấp dịch vụ xếp dỡ, kho bãi cho hàng hóa cũng như các dịch vụ cung ứng cho tàu, chưa thực sự là những trung tâm dịch vụ logistics.
Kính thưa Quý vị Đại biểu!
Thưa toàn thể các đồng chí!
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã xác định: Thế kỷ XXI được Thế giới xem là “Thế kỷ của đại dương”. Định hướng Chiến biển Việt Nam đến năm 2020 đã được Đảng xác định mục tiêu: “Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu, mạnh”. Sau năm 2020, kinh tế hàng hải phải là chủ lực của Kinh tế biển. Và định hướng của Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển mạnh Hệ thống cảng biển quốc gia, xây dựng đồng bộ một số cảng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đặc biệt chú trọng các cảng nước sâu ở cả 3 khu vực miền Bắc, Trung, Nam, tạo những cửa mở lớn vươn ra biển thông với quốc tế. Tăng cường đầu tư chiều sâu, cải tiến đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, sớm khắc phục tình trạng lạc hậu về trình độ kỹ thuật - công nghệ các cảng, tăng nhanh năng lực bốc xếp hàng hóa, giảm thiểu tối đa chi phí, bảo đảm có sức cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế”.
Để đạt được những mục tiêu trên, Hệ thống cảng biển Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp chính sau:
- Về quy hoạch phát triển cảng biển
Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam cần được rà soát, cập nhật, điều chỉnh, bổ sung với tầm nhìn xa hơn phải đến năm 2050 hoặc xa hơn nữa. Vì các công trình đầu tư xây cảng đều có tuổi thọ từ một thế kỷ trở lên. Quy hoạch phát triển cảng cần làm rõ các nội dung như địa điểm, chức năng, quy mô xây dựng, mô hình quản lý, cơ chế chính sách để phát triển và cơ chế huy động vốn cho phát triển cảng biển, quy hoạch đồng bộ với việc phát triển luồng tàu, giao thông đường bộ, sắt, thủy, hệ thống cấp thoát nước, điện.
- Định hướng đầu tư phát triển giai đoạn 2010 - 2020
Các quốc gia mạnh về kinh tế biển đều có những cảng trung chuyển có tầm cỡ quốc tế đáp ứng lâu dài xu thế tăng trọng tải của đội tàu thế giới, là trung tâm của hệ thống cảng biển quốc gia. Việc phát triển cảng trong thời gian tới ngoài việc nâng cấp, đầu tư chiều sâu các cảng hiện hữu cần tập trung đầu tư phát triển các cảng nước sâu có khả năng tiếp nhận các loại tàu lớn hơn theo xu thế tăng trọng tải của đội tàu thế giới, đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá của nền kinh tế và chia sẻ thị trường trung chuyển container. Tại phía Bắc, giai đoạn đến 2020 quy mô của dự án cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng sẽ bao gồm 4 bến container, chiều dài 1.200 m, 02 bến hàng rời với chiều dài 500m, có khả năng tiếp nhận tàu hàng rời đến 80.000DWT, tàu container đến 6.000TEU, 05 bến hàng bao kiện, chiều dài 1.000m, cho tàu có trọng tải đến 30.000DWT. Tại miền Trung đến năm 2010 và những năm tiếp theo là đầu tư xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong nhằm tham gia thị trường chuyển tải container trong khu vực với các cảng Hồng Kông, Singapore..., phục vụ có hiệu quả nhu cầu vận chuyển hàng hoá của đất nước, giúp giảm chi phí vận tải, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá XNK Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của khu vực và cả nước. Đến năm 2010 đầu tư 02 bến với chiều dài là 690m có thể tiếp nhận tàu từ 6.000 - 9.000TEU và tiếp tục phát triển cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong giai đoạn đến 2015 đầu tư 4 bến, với chiều dài 1.000 - 1.500m, giai đoạn đến năm 2020 đầu tư tiếp 6 bến với chiều dài khoảng 2.400 m, có khả năng tiếp nhận các tàu trọng tải 150.000 - 200.000DWT, tàu container 10.000 - 12.000 TEU. Khu vực miền Nam tập trung hoàn thành các dự án đầu tư xây dựng cảng tại Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ.
- Huy động vốn cho chương trình đầu tư phát triển
Hiện nay nhu cầu vay vốn phục vụ cho các dự án đầu tư phát triển cảng của các doanh nghiệp là rất lớn. Trong giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo, nhu cầu vốn đầu tư để phục vụ cho các kế hoạch đầu tư, phát triển mang tính đột phá của hệ thống cảng biển Việt Nam là rất lớn. Do sự hỗ trợ của Nhà nước từ nguồn vốn ngân sách, tín dụng ưu đãi đầu tư phát triển trong giai đoạn này là rất khó khăn, hạn chế nên để đáp ứng được yêu cầu về nguồn vốn đầu tư phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam, chúng ta cần xác định phải có sự thay đổi mạnh mẽ, đa dạng các phương án huy động vốn, với những khả năng, giải pháp huy động vốn chủ yếu như sau:
+ Tiến hành vay vốn của các ngân hàng trong nước phục vụ cho chương trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cảng biển, tuy nhiên mức lãi suất phải hợp lý.
+ Hướng tới thị trường vốn quốc tế thông qua các nhà đầu tư tài chính quốc tế và vay vốn các ngân hàng nước ngoài.
+ Thông qua nguồn vốn Chính phủ phát hành trực tiếp trái phiếu quốc tế cho vay lại và trái phiếu công ty do các doanh nghiệp tự phát hành.
+ Hiện đại hoá trang thiết bị bốc xếp thông qua hình thức thuê mua tài chính đối với trang thiết bị bốc xếp cảng biển.
+ Tiến hành liên doanh đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng với các hãng tàu, tập đoàn khai thác cảng lớn trên thế giới.
+ Công nghiệp hoá cảng, hình thành các trung tâm phân phối hậu cần.
+ Các doanh nghiệp khai thác cảng biển cần phối hợp chặt chẽ để giữ ổn định giá cước nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư và kinh doanh có lãi. Đồng thời tăng cường hợp tác, giúp đỡ nhau trong quá trình SXKD như hỗ trợ về phương tiện, thiết bị, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm quản lý, hợp tác kinh doanh...
- Một số kiến nghị:
+ Đề nghị Bộ GTVT sớm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch hệ thống cảng biển VN để các doanh nghiệp có cơ sở đầu tư phát triển.
+ Đề nghị Chính phủ, Bộ GTVT ưu tiên vốn để thực hiện đầu tư các dự án trọng điểm mang tính đột phá của cơ sở hạ tầng giao thông đường biển (đường liên cảng, luồng tàu, phao tiêu báo hiệu hàng hải, hệ thống thông tin, đèn biển...) nói riêng, mạng giao thông đờng bộ đường sắt, hàng không kết nối với cảng.
+ Đề nghị UBND các tỉnh tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình giải phóng mặt bằng để đảm bảo tiến độ thực hiện dự án (Hiệp Phước, Vân Phong...).
+ Đề nghị UBND thành phố Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh cho phép Tổng công ty và các doanh nghiệp Cảng Đà Nẵng, Cảng Sài Gòn được tiến hành chuyển đổi công năng của Cảng Sông Hàn, khu phức hợp Nhà Rồng - Khánh Hội theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
+ Các địa phương phối hợp với các chủ đầu tư trong việc đào tạo và cung ứng nguồn lao động chuyên ngành cho các cảng mới xây dựng.
Kính thưa Quý vị Đại biểu.
Thưa toàn thể các đồng chí.
Nhân dự Hội nghị thường niên năm 2008 của Hiệp hội Cảng biển Việt Nam, thay mặt Lãnh đạo Tổng công ty Hàng hải Việt Nam chân thành cám ơn sự giúp đỡ của Đảng và Chính phủ, các Bộ, Ban, Ngành và UBND các tỉnh, thành phố trong thời gian qua đã có nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện cho các hoạt động của Tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên đạt được thành công nhất định. Cám ơn sự hỗ trợ của các Hiệp hội chuyên ngành đã tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp của Tổng công ty HHVN được tham gia, liên kết các hoạt động của mình với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Cám ơn các Chủ hàng, Chủ tàu trong và ngoài nước đã hợp tác với các Doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu, chiến lược phát triển Tổng công ty HHVN ngày một vững mạnh. Chúng tôi mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ quý báu của Quý vị đại biểu trong thời gian tới.
Xin kính chúc Quý vị Đại biểu và toàn thể các đ/c tham dự Hội nghị luôn dồi dào sức khỏe và thành đạt trong công tác. Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.