§ Phát
triển cảng biển:
§ Phát triển sân bay
§ Đường bộ
§ Đường sắt
§ Đường giao thông nông thôn
§ Thủy lợi
§ Cấp nước
Phát triển
cảng biển:
Theo số liệu thống kê và qua kết quả điều tra thấy rằng
trên toàn lãnh thổ nước ta trung bình mỗi tỉnh có một cảng
cùng 1,5 "cái" tạm gọi là điểm cảng. Cục hàng
hải Việt Nam cho biết, từ đầu những năm mở cửa đến nay,
hầu như năm nào cũng có tỉnh ven biển tiến hành khảo sát,
tìm địa điểm, rồi lên xin trung ương cho mở cảng để "hội
nhập". Số cảng và điểm cảng trở nên dày kín, san sát
nhau dọc bờ biển nước ta.
Không chỉ ở địa phương, ngay cả các cảng do TW quản lý
cũng có tình trạng thi đua mở rộng quy mô cảng để bắt kịp
với sự bùng nổ về nhu cầu vận chuyển hàng hoá xuất nhập
khẩu và nhu cầu vận tải nội địa. Các cảng lớn như Hải Phòng,
Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Nẵng đều đã được nhanh chóng đầu tư
mở rộng, nâng cấp. Các cảng chuyên dùng, cảng nước sâu,
cảng liên doanh cũng bắt đầu được quy hoạch, nghiên cứu
tiền khả thi, khả thi. Một hai cái đã đi vào hoạt động.
Việc xây dựng cảng hầu như đựơc tiến hành ở khắp nơi .
Thực tế chỉ ra rằng các cảng biển ở Việt Nam thời gian
qua đều gặp phải hai thử thách: Một là, lượng hàng hoá ngày
một tăng (năm 1999, tổng luợng hàng hoá thông qua đạt 62,9
triệu tấn, tăng 12,2 triệu tấn so với năm 1998); và hai
là đáp ứng công nghệ của tàu biển luôn luôn thay đổi, chẳng
hạn như container hoá. Tuy vậy, nguồn vốn ngân sách, vốn
vay, hiện nay mới chỉ đáp ứng được khoảng một nửa nhu cầu,
còn một nửa là chưa có nguồn (như năm 2000 vốn ghi 300 tỷ
đồng chủ yếu là dành cho cảng Cái Lân). Với số vốn như vậy,
thật khó nâng cấp thậm chí một cảng, chưa nói tới việc trải
ra cho các cảng ở mỗi tỉnh, vì vậy hệ thống cảng biển của
ta hiện còn trong tình trạng quá manh mún, tạm bợ, đều có
quy mô nhỏ bé, thiết bị bốc xếp lạc hậu, mức độ cơ giới
hóa và giao thông nối mạng quốc gia kém. Trong lúc hiện
các cảng trên thế giới có năng suất hàng hóa qua lại đạt
đến 4000 tấn/m cầu tàu thì ở Việt Nam con số này phổ biến
là 500-1000 tấn. Ngay những cảng do TW khai thác quản lý
cũng chỉ đạt 1800-2500 tấn/m cầu tàu. Hiện nay Việt Nam
vẫn chưa có cảng nào đủ điều kiện cập các con tàu container
1200 TEU và đáp ứng được dịch vụ tiếp vận phân phối hàng,
vận tải đa phương theo tiêu chuẩn quốc tế.
Qua điều tra thực tế cho thấy: Mặc dù khu vực miền Trung
có nhiều nơi đã thiết lập cảng, nhưng phần lớn các cảng
đã có ở khu vực miền Trung đều mới phát huy được khoảng
50-60% công suất, chủ yếu là do thiếu hàng, không có hậu
phương cảng. Việc thiết lập cảng và hình thành cảng nước
sâu ở khu vực này cần xem xét kỹ lưỡng để các cảng phát
huy hết năng lực, tránh sự trùng lắp chức năng, dự báo lượng
hàng qua cảng dưới góc độ chuyên môn cho chính xác.
Dự kiến xây dựng các cảng trong vùng: Mặc dù nhiều địa
phương mong muốn mở cảng và đó là một nhu cầu chính đáng,
song quan điểm vẫn phải là đầu tư có trọng điểm. Cụ thể
trong quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển Việt Nam đến
năm 2010 của Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 202/1999/QĐ-Ttg
ngày 12 tháng 10 năm 1999, thì từ nay đến năm 2003 khu vực
miền Trung chỉ đầu tư 5 cảng trọng điểm là Cửa Lò, Đà Nẵng,
Quy Nhơn, Nha Trang và cảng chuyên dùng Dung Quất.
Một số cảng hiện có và đã được nghiên cứu xây dựng như
sau :
- Cảng Cửa Lò (Nghệ An) : đã được xây dựng từ 1997 với
công suất 1,3 triệu tấn/năm với tổng vốn đầu tư 130 tỷ đồng
bằng vốn ngân sách, để vận chuyển hàng từ một số tỉnh khu
IV cũ.
- Cảng Cửa Việt (Quảng Trị) là một cảng lớn ở miền Trung
sẽ có qui mô 1 triệu tấn/năm vào năm 2010.
- Cảng Chân Mây (Thừa Thiên Huế). Đến nay tỉnh Thừa thiên
Huế đã xây dựng đường ra vào cảng dài 8 km từ quốc lộ 1A,
dự kiến xây cầu cảng số 1 với số vốn đầu tư hơn 30 tỷ đồng;
xây dựng hệ thống cấp nước hơn 20 tỷ đồng và một nhà máy
nước công suất 60000 m3/ngày đêm; một trạm bưu điện 1000
số, vốn đầu tư giai đoạn 1 gần 3 tỷ đồng.
Việc thiết lập cảng Chân Mây sẽ là điều kiện thuận lợi
(không phải vượt đèo) cho việc trung chuyển nhanh hơn hàng
hóa qua trục đường 9. Mặt khác từ Chân Mây đến Huế, Đà Nẵng
(ba điểm của tam giác này) cách đều nhau khoảng 50-60 km,
nên việc hình thành cảng Chân Mây cùng với những khu công
nghiệp sạch sẽ tạo nên sự gắn kết giữa hai cực Huế và Đà
Nẵng, hạn chế bớt những cách trở của đèo Hải Vân.
Tuy vậy, vấn đề "Chân Mây" xét trong dải lãnh
thổ từ Quảng Trị đến Đà Nẵng có nhiều điều hợp lý, song
nếu xét trong tổng thể miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình
Thuận và xét trong bối cảnh 10-15 năm tới cần được tính
toán để tối ưu các nguồn vốn đầu tư.
- Cảng Tiên Sa có khả năng neo tầu tới 25000 DWT, một cảng
sông thích hợp cho các tàu 5000 DWT, bến cho tầu đánh cá
thương mại, một cảng dầu và một cảng hải quan, công suất
chung của các cảng hiện có khoảng 1,2 triệu tấn/năm, có
thể mở rộng lên 3,5-4 triệu tấn/năm. Mức bốc xếp hiện nay
mới đạt 85%. Khu vực Tiên Sa đang được đầu tư bằng vốn JBCI
(172 triệu USD, giai đoạn 1 là 115 triệu USD) để nâng công
suất lên 3 triệu tấn/năm vào năm 2003. Sau năm 2003 chuyển
sang đầu tư khu Liên Chiểu, hiện chưa có dự án tiền khả
thi và chưa xác định được nguồn vốn đầu tư.
- Xây mới cảng Liên Chiểu. Cảng Liên Chiểu trước mắt xây
dựng một cầu cảng chuyên dùng để phục vụ nhà máy xi măng,
sau đó là cảng tổng hợp phục vụ các mục tiêu vận chuyển
khác.
- Cảng Kỳ Hà ở tỉnh Quảng Nam dự kiến xây dựng để phục
vụ khu kinh tế mở Chu Lai. Nằm trong danh mục qui hoạch
phát triển cảng biển Việt Nam giai đoạn 1997-2010 Cục Hàng
hải đã xây dựng cầu cảng đáp ứng cho tàu 10000 DWT cập bến.
Theo quy hoạch đến năm 2003 đạt công suất 0,35-0,4 triệu
tấn/năm, năm 2010 đạt mức 0,5 triệu tấn/năm. Những năm tới
Cảng Kỳ Hà sẽ là cửa ngõ chính về vận tải bằng hàng hải
đối với khu kinh tế mở Chu Lai.
- Cảng Dung Quất (Quảng Ngãi). Cảng Dung Quất được xây
dựng trước mắt để phục vụ nhà máy lọc dầu. Hiện đang xây
dựng một bến chuyên dùng cho vận chuyển dầu khí (vốn đầu
tư 5 triệu USD).
- Cảng Qui Nhơn (Bình Định). Hiện tại đảm nhận 90% hàng
hóa qua khu vực. Đất xây dựng 685m bến, đảm bảo lượng hàng
thông qua 1,0 triệu tấn/năm. Nghiên cứu phát triển về phía
hạ lưu một bến nhô cho tầu 15000 tấn, đảm bảo hàng thông
qua 2,5-3 triệu tấn/năm ở Nhơn Hội. Dự kiến đến năm 2010
tăng thêm bến bảo đảm lượng hàng thông qua 3 triệu tấn/năm
cho tầu 1,5 vạn tấn vào cảng.
- Cảng Nha Trang (Khánh Hòa). Hiện có 171m bến tiếp nhận
tầu 10000 tấn, có năng lực thông qua là 250000 tấn/năm.
Đang củng cố xây dựng cơ sở vật chất của cảng, đầu tư chiều
sâu, bổ sung trang thiết bị bốc xếp để đảm bảo năng lực
thông qua. Đã thực hiện khoảng 0,5 triệu tấn và đang trong
tình trạng quá tải, do địa thế hẹp, khó mở rộng cho cả tầu
hàng và tầu du lịch vào ra. Đang có kế hoạch mở rộng một
cầu nhỏ để đưa công suất lên 0,9 triệu tấn/năm và tầu 2
vạn tấn vào cảng. Sau năm 2002 sẽ chuyển sang chức năng
vận chuyển hành khách.
- Cảng Ba Ngòi (Khánh Hòa). Củng cố sửa chữa, xây mới cầu,
bến phục vụ vận chuyển hàng hóa địa phương cho các tầu từ
500 đến 1000 tấn. Công suất thông qua 1 triệu tấn/năm vào
năm 2010.
- Cảng Đầm Môn - Hòn Khói (Khánh Hòa). Duy trì hoạt đông
khai thác của cảng, từng bước nâng cấp cơ sở vật chất kĩ
thuật, tăng cường trang thiết bị bốc xếp phục vụ xuất khẩu
cát của địa phương. Tiếp nhận tầu 20000-30000 tấn.
- Cảng chuyên dùng Mũi Chụt. Hiện tại cảng này chỉ là bến
phao neo có khả năng tiếp nhận các tầu ven biển đến 3000
tấn vào ra, công suất vào năm 2000 lên 280000 tấn/năm.
- Cảng Vũng Rô. Vũng Rô là vịnh kín có điều kiện thiết
lập một cảng địa phương đủ tiếp nhận loại tầu 10000 tấn
trong mối quan hệ hợp lí với hệ thống cảng miền Trung. Việc
hình thành cảng Vũng Rô gắn với sân bay Đông Tác, trục đường
25 và tỉnh lộ 645 (sau này dự kiến thành quốc lộ) sẽ có
ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế ở khu vực Phú Yên,
Gia Lai.
- Cũng cần tính đến việc nâng cấp cảng Cửa Việt, Thuận
An ở phía Đà Nẵng (trong nghiên cứu khả thi của JICA Nhật
Bản đã đề cập) vì các cảng này có liên quan đến tuyến hành
lang Đông -Tây.
Nhưư vậy ở khu vực Miền Trung (hầu như tỉnh nào cũng có
từ 1-2 cảng). Vấn đề xác định chức năng và xây dựng hệ thống
cảng còn cần phải được xem xét theo tiến độ thời gian qui
hoạch và có cân nhắc tới những yếu tố địa lý, chính trị,
vốn và các yếu tố khác.
Phát triển sân
bay:
Trong vùng có 9 sân bay: Vinh (Nghệ An), Đồng Hới (Quảng
Bình), Phú Bài (T.T. Huế), Đà Nẵng, Chu Lai (Quảng Nam),
Phù Cát (Bình Định), Đông Tác (Phú Yên), Nha Trang và Cam
Ranh (Khánh Hòa). Những năm qua đã có chủ trương khôi phục
và nâng cấp các sân bay Đồng Hới (Quảng Bình), Phú Bài (Huế),
Cam Ranh (Khánh Hòa). Xây dựng sân bay Đà Nẵng thành sân
bay Quốc tế.
- Sân bay Vinh (Nghệ An). Là sân bay hành khách cho vùng
miền Trung, nhưng hoạt động chưa nhiều. Đã có dự án đầu
tư nâng cấp sân bay này với tổng vốn 2 tỷ đồng. Đến năm
1999 đã đầu tư 1,1 tỷ đồng.
- Sân bay Đồng Hới (Quảng Bình). Sẽ được phục hồi và hiện
đại hóa trong giai đoạn 2005-2010 với tổng đầu tư 100 tỷ
đồng.
- Sân bay Phú Bài (T.T. Huế): Dự kiến quy hoạch năm 2005
trở ra sẽ xây dựng thêm 10.000 m2 nhà ga để đạt năng lực
thông qua 1 triệu hành khách/năm, mở các đường bay quốc
tế phục vụ khách du lịch. Đến năm 2000 đầu tư khoảng 90
tỷ đồng, bao gồm các hạng mục như kéo dài đường băng từ
1800m lên 2600 m để tiếp nhận các máy bay lớn; hoàn thành
hệ thống đường lăn, 30.000 m2sân đỗ, hoàn thành hệ thống
thoát nước, lắp đặt xong hệ thống đèn dẫn đường. Hiện nay
các máy bay lớn đã hạ cánh được.
- Sân bay Đà Nẵng : dự kiến quy hoạch giai đoạn 2001-2010
sẽ xây dựng nhà ga mới và 75.000 m2 sân đỗ, bảo đảm năng
lực 5 triệu hành khách/năm, vốn đầu tư dự kiến khoảng 35
triệu USD. Hiện tại công suất vận chuyển đạt 1 triệu hành
khách/năm. Năm 2000 đầu tư 30 tỷ đồng để cải tạo và nâng
cấp.
- Sân bay Chu Lai (Quảng Nam): Dự kiến quy hoạch lâu dài
sẽ phát triển thành sân bay quốc tế khi nhu cầu vận chuyển
hàng không của khu vực vượt qúa khả năng vận chuyển của
sân bay quốc tế Đà Nẵng. Quy hoạch đến năm 2010 khả năng
tiếp nhận 0,5 triệu hành khách/năm và 1 triệu tấn hàng hoá/năm
phục vụ cho khu công nghiệp lọc hoá dầu Dung Quất và khu
kinh tế mở Chu Lai, tổng đầu tư khoảng 30 triệu USD. Trong
năm 2000 sẽ làm xong thủ tục đầu tư, dự án khả thi, đấu
thầu xây dựng. Tiến độ xây dựng của sân bay này phụ thuộc
vào tiến độ xây dựng và khả năng phát triển của khu Dung
Quất và Khu kinh tế mở Chu Lai.
- Sân bay Phù Cát (Bình Định). Cách Qui Nhơn 40 km sân
bay Phù Cát đã chuyển một phần sang phục vụ vận chuyển hành
khách nối Bình Định với thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh và Đà Nẵng. Sẽ xây dựng khu ga dân sự mới thay thế
cho nhà ga hiện nay do quân sự quản lý. Dự kiến sẽ xây dựng
xong trong năm 2000 với tổng mức đầu tư khoảng 15 tỷ đồng,
gồm các hạng mục làm mới 3000m2 nhà ga mới; 1000 m đường
ô tô và cải tạo 15000m2 sân đỗ.
- Sân bay Đông Tác (Phú Yên). Đây là sân bay cũ, được tiếp
quản từ năm 1975. Do không được tu sửa, ngừng hoạt động
một thời gian dài. Hiện tại đường băng rộng 45m, dài 3,2
km đang còn tốt. Gần đây đã khôi phục và dự kiến sẽ đầu
tư xây dựng thành sân bay nội địa. Về lâu dài, theo ý kiến
của Tổng cục Du lịch, sân bay Đông Tác là sân bay thích
hợp cho việc phục vụ khu du lịch Văn Phong và vùng Phú Yên-Khánh
Hòa. Theo dự án của Tổng cục hàng không dân dụng thì sân
bay Đông Tác còn là sân tập lái cho phi công dân sự.
- Sân bay Nha Trang (Khánh Hòa). Nằm trong nội thành thành
phố, có một đường băng duy nhất rộng 45m, dài 1.850m, là
sân bay loại nhỏ, chỉ tiếp nhận những máy bay thông dụng.
Sân bay còn thiếu những trang thiết bị hiện đại, kể cả cho
đường băng, nhà ga đón, tiễn phục vụ khách và hệ thống thông
tin, liên lạc, điều khiển kỹ thuật (chưa cho phép máy bay
hạ cánh vào ban đêm). Với chức năng hàng không dân dụng,
sân bay Nha trang đảm nhiệm các chuyến bay nội địa. Ngoài
ra sân bay Nha Trang còn đảm nhiệm chức năng tập lái cho
Học viện Sỹ quan chỉ huy kỹ thuật hàng không, do đó thường
hay gây tiếng ồn, ô nhiễm cho thành phố, không phù hợp với
Nha Trang là thành phố du lịch.
- Sân bay Cam Ranh (Khánh Hòa). Nằm trên bán đảo Cam Ranh
có 4 đường băng dài 4.000m, là sân bay cỡ lớn, có trang
bị khá hiện đại, đủ tiêu chuẩn kỹ thuật của một sân bay
quốc tế. Hiện nay sân bay được sử dụng với chức năng quân
sự, phục vụ quốc phòng.
Đường bộ:
Mạng lưới quốc lộ (QL) trong vùng miền Trung có tổng chiều
dài khoảng 2320 km gồm quốc lộ 1A, các quốc lộ nối với Tây
Nguyên lên biên giới Việt Lào, đường nối với cảng Dung Quất,
Cửa Việt, Hòn Khói..., sắp tới có thêm trục đường Hồ Chí
Minh xuyên Việt và một số tuyến đường Đông-Tây. Hệ thống
đường bộ đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu
giữa vùng miền Trung với các vùng, đặc biệt là Tây Nguyên
và các nước láng giềng Lào, Căm Pu chia, Thái Lan,... gắn
với các cảng nước sâu và sân bay.
Mật độ quốc lộ trong khu vực đạt tương đối cao so với bình
quân chung của cả nước: 5,08 km/100 km2 và 0,26 km/1000
dân (bình quân toàn quốc: 4,43 km/100 km2 và 0,19 km/1000
dân ).
Qua kết quả điều tra cho thấy: Mạng lưới đường bộ trong
vùng phân bố tương đối hợp lý. Tuy nhiên chưa hoàn chỉnh
và còn một số tồn tại như sau:
o Phần lớn quốc lộ qua vùng chưa được xây dựng hoàn chỉnh
đúng tiêu chuẩn kỹ thuật của cấp đường.
o Hành lang bảo vệ an toàn giao thông chưa đảm bảo đúng
tiêu chuẩn.
o Khẩu độ cầu, cống, cao độ nền nhiều tuyến đường xây dựng
trước đây không còn phù hợp với lưu lượng vận tải hiện nay
cũng như không phù hợp với điều kiện hiện nay, trong mùa
mưa lũ nhiều đoạn đuờng bị ngập và sạt lở gây ách tắc giao
thông.
Đường sắt :
Đoạn đường sắt đi qua miền Trung còn gặp nhiều khó khăn,
vì hầu hết các đoạn đều qua núi, thiên nhiên trong vùng
lại khắc nghiệt. Có một số nhận xét như sau :
- Chạy qua vùng có chiều dài trên 1300km, do kinh phí duy
tu, bảo dưỡng hạn hẹp nên không được cải tạo, nâng cấp theo
đúng tiêu chuẩn quy định, đến nay nhiều đoạn xuống cấp,
năng lực thông qua kém, lũ lụt về mùa mưa thường gây hỏng
cầu và đường ray.
- An toàn trên đường chưa tốt. Đuờng bộ qua đường sắt chủ
yếu là giao bằng, không có cầu vượt, nhiều đường ngang không
có gác chắn làm hạn chế tốc độ chạy tầu, gây ra tai nạn
giao thông trong quá trình khai thác.
- Trang, thiết bị thiếu thốn. Cơ sở vật chất của ngành
như: tà vẹt; đầu máy; toa xe; còn ở mức lạc hậu và khai
thác quá lâu... cần được duy tu nâng cấp.
Hiện nay đang xây dựng các dự án khả thi như dự án thông
tin tín hiệu cung Hà Nội-Vinh vốn ODA của Pháp sẽ khởi công
vào cuối năm 2000; dự án khôi phục hầm qua đèo Hải Vân :
hầm số 7, số 9, số 13 vốn vay ODA của Pháp; một số dự án
xây dựng các cầu mới trên tuyến đường sắt Thống Nhất khu
vực miền Trung (khoảng 11 cầu) vốn vay của Nhật Bản.
Sắp tới sẽ tập trung đầu tư nâng cấp để đảm bảo an toàn
chạy tầu. Đến năm 2000 sẽ thống nhất hóa đường sắt khổ 1000
mm.
Đường
giao thông nông thôn :
Cũng như các phương tiện khác, giao thông nông thôn miền
Trung còn gặp nhiều khó khăn :
- Phần lớn các đường giao thông nông thôn do tỉnh đầu tư
xây dựng, không lường hết được các vấn đề phức tạp như địa
chất, thủy văn, địa hình trong khu vực dẫn tới công trình
có tuổi thọ không cao và chưa kết hợp được khả năng thoát
lũ.
- Hiện tại toàn khu vực còn 121 xã chưa có đường ô tô đến
trung tâm xã. Để có đường đến các trung tâm xã nêu trên
cần xây dựng mới 643 km đường cấp phối và khoảng 4585 mét
cầu.
- Mức sống không cao, việc huy động đầu tư từ dân rất hạn
chế, cần có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Tóm lại, do đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng
hướng ưu tiên trong thời gian qua cũng như những năm tới
là phát triển hệ thống đường bộ và đường biển. Cùng với
việc hoàn thành quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh cần tập trung
hoàn thiện các tuyến ngang như đường 7, 8, 12, 9, 14B, 24,
25, 26 để nối liền vùng kinh tế này với Tây nguyên và sang
nước Lào. Các tuyến ngang này là đường tránh trong trường
hợp giao thông trên tuyến 1A bị ách tắc do mưa và lũ lụt.
Chuẩn bị khởi công xây dựng đường hầm Hải Vân dài 6 km và
đường dẫn dài 12 km; sắp tới lại có thêm đường Hồ Chí Minh
xuyên Việt gắn với một số tuyến ngang lên Tây Nguyên và
biên giới Việt-Lào và Căm- Pu- Chia (đường 14B, 24 và 19).
Hệ thống đường này tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc
giao lưu kinh tế trong vùng và giữa vùng trọng điểm với
các vùng khác và quốc tế.
Thủy lợi :
Thời gian qua Trung ương và địa phương đã tập trung ưu
tiên phát triển các công trình thuỷ lợi như thi công đập
Cửa Đại, đập Lèn; đập Nghi Quang (Nghệ An) để ngăn mặn và
tưới nước; nâng cấp các công trình thủy lợi Sông Rác, Sông
Tiêm (Hà Tĩnh), đập Việt Yên, hồ Kinh Môn, hồ Bảo Đài (Quảng
Trị); xây dựng các công trình vượt lũ an toàn như hồ An
Mã (Quảng Bình), hồ Truồi (Thừa Thiên Huế); hồ Việt An (Quảng
Nam); hồ Am Chúa (Khánh Hòa); thúc đẩy tiến độ các công
trình khởi công mới như hồ Phú Hoà (Quảng Bình), hồ ái Tử
(Quảng Trị); kè Sông Hàn (Đà Nẵng), hồ Vạn Hội (Bình Định),
công trình sau thuỷ điện Sông Hinh (Phú Yên); hồ Suối Dầu
(Khánh Hoà), hồ Tân Giang (Ninh Thuận) hồ sông Quao, hồ
Đá Bạc, Cà Giây (Bình Thuận), ... Các công trình thuỷ lợi
được xây dựng trong những năm gần đây đã tạo điều kiện khai
hoang, tăng vụ, chuyển vụ 5700 ha, cùng với những công trình
đã xây dựng trong những năm trước thủy lợi đã đảm bảo tưới
được 54 vạn ha gieo trồng cả năm (trong đó 52,45 vạn ha
lúa), tăng 5% so với năm 1998.
Công trình thuỷ lợi được xây dựng trong những năm gần đây
đã phát huy cao hiệu quả cấp nước sản xuất, cấp nước cho
công nghiệp, nước sinh hoạt đô thị và cho nhiều vùng rộng
lớn, góp phần cải thiện môi trường sinh thái,... Các hồ
chứa nước đã tham gia cắt giảm lũ, hạn chế ngập lụt ở hạ
lưu.
Bộ Nông nghiệp và phát triền nông thôn đã đầu tư 15,5 tỷ
đồng để thực hiện nâng cấp 7 dự án đê điều thường xuyên
của 7 tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Định và 2 dự án riêng
về công trình chống sạt lở bờ sông là kè Bến Kiển (Quảng
Bình và kè Sông Cái (Nha Trang).
Qua khảo sát thực tế và điều tra ở các địa phương thấy
rằng để thực hiện tốt việc quản lý khai thác các công trình
thuỷ lợi, hạn chế thấp nhất hậu quả do thiên tai gây ra
cho khu vực Miền Trung, đề nghị Chính phủ và lãnh đạo các
địa phương cần có các giải pháp chủ yếu sau:
- Tiếp tục soát xét lại quy hoạch chống lũ Miền Trung phù
hợp với đặc điểm thiên tai: hạn, hán, lũ, bão, mặn đặc biệt
là sau 2 lần xuất hiện lũ lớn... đề xuất kiến nghị xây dựng
các công trình thuỷ lợi lớn ở thượng nguồn để chống lũ,
phát điện, cấp nước mùa kiệt kết hợp với việc trồng rừng
đầu nguồn để giữ đất, giữ nước, hạn chế lũ lụt.
- Đầu tư nghiên cứu chỉnh trị các dòng sông lớn như sông
Hương, sông Ba, sông Thu Bồn, sông Côn, sông Trà Khúc...
để chống bồi lắng sạt lở, hạn chế hiện tượng sa mạc hoá,
đảm bảo thoát lũ và khai thác tổng hợp nguồn nước của từng
lưu vực.
- Tiếp tục chương trình xây dựng các hồ chứa ở miền Trung,
ưu tiên vốn đẩy nhanh tiến độ xây dựng và hoàn thành dứt
điểm vào năm 2000 các công trình hồ chứa nước đang thi công
dở dang, vừa giải quyết mục tiêu tưới kết hợp với cắt lũ,
giảm lũ, cấp nước cải thiện môi trường sinh thái như hồ
chứa An Mã (Quảng Bình); hồ Truồi (Thừa Thiên Huế); hồ Phú
Ninh, Việt An (Quảng Nam), Cam Ranh (Khánh Hoà)...
- Tập trung thúc đẩy tiến độ thi công kể cả việc khắc phục
hậu quả lũ lụt ở các công trình An Trạch (Quảng Nam), Núi
Ngang, hoàn thiện đồng bộ hệ thống Thạch Nham (Quảng Ngãi);
hệ thống Đồng Cam, hồ Đồng Tròn (Phú Yên); hồ Khe Ngang
(Thừa Thiên Huế); hồ Suối Dầu (Khánh Hoà)...
- Cùng với việc xây dựng các hồ chứa nước ở thượng nguồn,
vùng đồng bằng ven biển cần xây dựng các cống đập ngăn mặn,
giữ ngọt ở các cửa sông như đập Thảo Long (Thừa Thiên Huế),
đập Duy Thanh (Quảng Nam).
- Tích cực chuẩn bị kỹ thuật và tìm nguồn vốn ODA để đầu
tư xây dựng các công trình lớn, lợi dụng tổng hợp với các
sơ đồ khai thác năng lượng như Rào Quan (sông Thạch Hãn),
Định Bình (Sông Côn), Tả Trạch (sông Hương), A Vương (sông
Thu Bồn), Nước Trong (sông Trà Khúc), Tà Pao (sông La Ngà)...
là những công trình giảm lũ, bổ sung nguồn nước về mùa kiệt
phục vụ sản xuất và dân sinh.
- Ngoài ra, còn một số vùng mà thời gian tới phải tiếp
tục nghiên cứu giải quyết như : hạn hán ở vùng Lệ Ninh (Quảng
Bình) 6000 ha, vùng sông Hương 12000 ha, vùng Quế Sơn (Quảng
Nam) 3000 ha, vùng Đức Phổ (Quảng Ngãi) 2000 ha, Bắc Bình
Định 2000 ha, Nam Bình Định 8000 ha, Nam Ninh Thuận 5000
ha...
Cấp nước :
Các dự án xây dựng các công trình cấp nước trong vùng như
sau:
- Cấp nước cho thành phố Thanh Hóa và Sầm Sơn.
- Cấp nước cho thành phố Vinh và Cửa Lò (Nghệ An).
- Nghiên cứu dự án cấp nước cho khu Thạch Khê, Vũng áng
(Hà Tĩnh).
- Quảng Trị đã được đầu tư dự án cấp nứơc sạch do ADB tài
trợ.
- Cấp nước cho thành phố Huế, đầu tư 35 triệu Fr Pháp +
52,5 tỷ đồng (ODA Pháp);
- Cấp nước KCN Chân Mây (Thừa Thiên Huế), đầu tư 124 triệu
Yên Nhật + 7,5 tỷ đồng (ODA-JBIC Nhật);
- Cấp nước thành phố Đà Nẵng, đầu tư 84 triệu Fr Pháp +
42,5 tỷ đồng (ODA Pháp);
- Mở rộng hệ thống cấp nước Đà Nẵng, đầu tư 40 triệu USD
+ 162 tỷ đồng (ODA WB);
- Cấp nước thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam), đầu tư 1,6 triệu
USD + 16,9 tỷ đồng;
- Cấp nước thị xã Quảng Ngãi, đầu tư 2,5 triệu USD + 5,5
tỷ đồng;
- Cấp nước cho KCN Dung Quất (Quảng Ngãi), đầu tư 56,7
tỷ đồng Việt Nam (BOT- Việt Nam; Vinaconex).
- Dự án cấp nước vệ sinh thành phố Nha Trang (vốn ODA)
18,7 triệu USD.
(Bộ KH&DT)