| |

thông tư
của Bộ TƯ PHáP số 01/2004/TT-BTP ngày 16 tháng 6 năm 2004
về việc Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định
số 135/2003/nđ-cp ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ
về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Căn cứ Nghị định
số 62/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003
của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật;
Nhằm bảo đảm thi hành thống nhất Nghị định số 135/2003/NĐ-CP
ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý
văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một
số vắn đề sau đây:
I. NHữNG
QUY ĐịNH CHUNG
1. Các văn bản được kiểm tra
và xử lý theo quy định tại Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày
14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn
bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là Nghị định số 135/2003/NĐ-CP)
bao gồm:
1.1. Văn bản quy phạm pháp luật:
a. Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ;
b. Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ;
c. Thông tư liên tịch giữa bộ, cơ quan ngang bộ với Toà án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan Trung ương
của các tổ chức chính trị - xã hội;
d. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp;
đ. Quyết định, Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp.
1.2. Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng
không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật
và văn bản do cơ quan không có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật ban hành theo quy định tại Điều 26 của Nghị định
số 135/2003/NĐ-CP, bao gồm:
a. Văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp có chứa quy phạm pháp luật
nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quyết định,
chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Uỷ
ban nhân dân;
b. Văn bản có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp
luật (ví dụ: quyết định, chỉ thị, thông tư, nghị quyết), văn
bản có thể thức không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng
có chứa quy phạm pháp luật (ví dụ: công văn, thông báo, quy
chế, điều lệ, chương trình, kế hoạch và các hình thức khác)
do cơ quan, cá nhân không có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật ban hành: Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ,
Thủ trưởng đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ ban hành hoặc do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp,
thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh, cấp huyện ban hành (bao gồm cả văn bản có thể thức và
nội dung như trên được ký thừa lệnh).
2. Nội dung kiểm tra văn bản là kiểm tra
sự phù hợp của văn bản được kiểm tra với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc bội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;
sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung văn bản đó; sự
phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban
hành văn bản đó. Cụ thể là:
2.1. Căn cứ pháp lý làm cơ sở ban hành
văn bản quy phạm pháp luật (điểm a và điểm b khoản 1 Điều 3
Nghị định số 135/2003/NĐ-CP) là văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên đang có hiệu lực tại thời điểm ban
hành văn bản đó, bao gồm:
a. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên
có thẩm quyền quy định về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ban
hành văn bản;
b. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên
có thẩm quyền quy định về vấn đề thuộc đối tượng, phạm vi điều
chỉnh của văn bản.
2.2. Văn bản quy phạm pháp luật ban hành đúng
thẩm quyền gồm thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội
dung:
a. Thẩm quyền về hình thức: Theo quy định của Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã được sửa đổi, bổ sung
theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật năm 2002 (sau đây gọi chung là Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật), cơ quan, người có thẩm quyền
ban hành văn bản chỉ được ban hành văn bản đúng hình thức (tên
gọi) văn bản quy phạm pháp luật mà Luật đã quy định cho cơ quan,
người có thẩm quyền đó được ban hành (xem điểm 1.1. của Mục
này).
b. Thẩm quyền về nội dung: Cơ quan, người có thẩm quyền chỉ
được ban hành các văn bản có nội dung phù hợp với thẩm quyền
của mình được pháp luật cho phép hoặc đã được phân công, phân
cấp. Thẩm quyền này được xác định trong các văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên có thẩm quyền quy định về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn quản lý nhà nước cụ thể của từng cơ quan, từng
cấp, từng ngành đối với từng lĩnh vực.
2.3. Nội dung của văn bản phù hợp với quy định
của pháp luật hiện hành:
a. Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của
Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và quyết
định, chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ khác về lĩnh vực do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
đó quản lý;
b. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải phù hợp với
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch
nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị
của Thủ tướng Chính phủ và quyết định, chỉ thị, thông tư của
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là
văn bản của các cơ quan nhà nước trung ương).
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện phải phù hợp với
văn bản của các cơ quan nhà nước Trung ương và văn bản của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã phải phù hợp với văn
bản của các cơ quan nhà nước trung ương, văn bản của Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và huyện;
c. Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải phù
hợp với văn bản của các cơ quan nhà nước trung ương và còn phải
phù hợp với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải phù hợp
với văn bản của các cơ quan nhà nước trung ương, văn bản của
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và còn phải phù hợp
với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp xã phải phù hợp
với văn bản của các cơ quan nhà nước trung ương, văn bản của
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện và còn phải phù
hợp với nghị quyết của Hột đồng nhân dân cùng cấp;
d. Văn bản được kiểm tra phải phù hợp với các điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.
Đối với văn bản được kiểm tra điều chỉnh những vấn đề đã được
quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia
nhập thì điều ước quốc tế đó cũng là cơ sở pháp lý để kiểm tra
văn bản đó.
2.4. Văn bản được kiểm tra phải được trình
bày đúng thể thức, kỹ thuật theo quy định lại khoản 4 Điều 3
của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP và quy định của Bộ trưởng, Chủ
nhiệm Văn phòng Chính phủ.
2.5. Thủ tục xây dựng, ban hành và đăng Công
báo, đưa tin hoặc công bố văn bản được kiểm tra phải tuân thủ
đầy đủ các quy định của pháp luật. Trường hợp phát hiện văn
bản được kiểm tra có nội dung trái pháp luật thì cơ quan có
thẩm quyền kiểm tra phải xem xét thủ tục xây dựng và ban hành
văn bản để làm cơ sở cho việc xác định cụ thể trách nhiệm của
cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bán trái pháp luật
cũng như cơ quan, người có trách nhiệm tham mưu, đề xuất nội
dung trái pháp luật và kiến nghị xử lý theo thẩm quyền.
3. Cơ sở pháp lý để xác định nội dung
trái pháp luật của văn bản được kiểm tra là những văn bản có
hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực tại thời điểm kiểm
tra theo quy định tại Chương III “Hiệu lực của văn bản quy phạm
pháp luật và nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật"
của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cục Kiểm tra văn
bản thuộc Bộ Tư pháp, tổ chức pháp chế các bộ, ngành, cơ quan
tư pháp địa phương có trách nhiệm giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thường xuyên và kịp thời
rà soát, xác định văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có
hiệu lực tại thời điểm kiểm tra văn bản để làm cơ sở pháp lý
phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản.
3.1. Văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn văn
bản được kiểm tra là văn bản do cơ quan nhà nước cấp trên của
cơ quan có văn bản được kiểm tra ban hành mà nội dung của văn
bản được kiểm tra đó phải phù hợp theo hướng dẫn tại điểm 2.3
của Mục này.
Ví dụ: đối với quyết định, chỉ thị, thông tư
của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thì văn bản có hiệu
lực pháp lý cao hơn là Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh,
quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính
phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các điều
ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; đối với quyết
định; chỉ thị của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thì văn bản có hiệu
lực pháp lý cao hơn là văn bản do các cơ quan nhà nước trung
ương ban hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc
gia nhập và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; đối với
quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân huyện, thì văn bản có
hiệu lực pháp lý cao hơn là văn bản do các cơ quan nhà nước
trung ương ban hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết
hoặc gia nhập, văn bản của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
tỉnh và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; đối với quyết
định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân xã, thì văn bản có hiệu lực
pháp lý cao hơn là văn bản do các cơ quan nhà nước trung ương
ban hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập,
văn bản của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện và
nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Trong trường hợp các văn bản là cơ sở pháp lý để xác định nội
dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra có quy định khác
nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp
lý cao hơn. Ví dụ, khi kiểm tra một thông tư mà thấy giữa nghị
định của Chỉnh phủ và quyết định của Thủ tướng Chỉnh phủ làm
cơ sở pháp lý để kiểm tra thông tư đó có quy định khác nhau
về cùng một vấn đề, thì áp dụng quy định của nghị định; khi
kiểm tra một nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện mà thấy
giữa quyết định của Thủ tướng Chính phủ và pháp lệnh của Uỷ
ban thường vụ Quan hội làm cơ sở pháp lý để kiểm tra nghị quyết
đó có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy
định của pháp lệnh; khi kiểm tra một quyết định của Uỷ ban nhân
dân huyện mà thấy giữa nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện
đó và văn bản của Uỷ ban nhân dân tỉnh làm cơ sở pháp lý để
kiểm tra quyết định đó có quy định khác nhau về cùng một vấn
đề thì áp dụng quy định của văn bản của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Trong trường hợp các văn bản là cơ sở pháp lý để kiểm tra đều
do một cơ quan ban hành về cùng một vấn đề nhưng có quy định
khác nhau, thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau;
đối với văn bản do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp
dụng văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản
lý nhà nước về ngành, lĩnh vực liên quan đến vấn đề đó.
3.2. Văn bản làm cơ sở pháp lý để kiểm tra
phải là văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm kiểm tra. Thời
điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được xác định
theo quy định tại Điều 75 của Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật.
Đối với văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước thì thời điểm
có hiệu lực được quy định tại văn bản đó.
Đối với nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị
của Uỷ ban nhân dân, do hiện nay chưa có quy định chung về thời
điểm có hiệu lực của văn bản nên về nguyên tắc, những văn bản
này có hiệu lực thi hành kể từ ngày được quy định lại văn bản.
Đồng thời, các văn bản nói trên phải chưa hết thời hạn có hiệu
lực được quy định trong các văn bản đó; chưa được thay thế bằng
văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;
chưa bị hủy bỏ, bãi bỏ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hiệu
lực của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành được xác
đính theo hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết, hướng
dẫn thi hành. Trong trường hợp văn bản được quy định chi tiết,
hướng dẫn thi hành đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế thì chỉ
những nội dung của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi
hành văn bản đó tiếp tục có hiệu lực khi chúng vẫn còn phù hợp
với các quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới.
Văn bản đã bị đình chỉ thi hành, ngưng hiệu lực theo quy định
tại Điều 77 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì
không được sử dụng làm cơ sở pháp lý để kiểm tra văn bản từ
thời điểm ngưng hiệu lực cho đến thời điểm tiếp tục có hiệu
lực thi hành theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Kết quả của các hoạt động nói tại điểm này là hệ thống các văn
bản, quy định đang có hiệu lực tại thời điểm kiểm tra văn bản,
được cập nhật thường xuyên theo yêu cầu của công tác kiểm tra
(đồng thời còn có hệ thống các văn bản, quy định đã hết hiệu
lực pháp luật tại thời điểm kiểm tra).
4. Cục Kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp,
tổ chức pháp chế các bộ, ngành, cơ quan tư pháp địa phương được
giao làm đầu mối giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,
Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,
cấp huyện kiểm tra văn bản có trách nhiệm xây dựng và quản lý
hệ cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản trong
phạm vi thẩm quyền được giao.
4.1. Hệ cơ sở dữ liệu bao gồm các nội dung
cơ bản sau đây:
a. Các văn bản quy phạm pháp luật đã được rà soát để xác lập
cơ sở pháp lý theo hướng dẫn tại điểm 3 của Mục này phục vụ
cho việc kiểm tra văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra của bộ,
ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp theo quy định tại Điều 12 và
Điều 13 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP;
b. Kết quả kiểm tra và xử lý văn bản (kể cả văn bản quy phạm
pháp luật và văn bản được kiểm tra và xử lý theo quy định tại
Điều 26 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP);
c. Các thông tin về nghiệp vụ kiểm tra;
d. Các thông tin, tài liệu, dữ liệu khác phục vụ cho công tác
kiểm tra văn bản.
Hệ cơ sở dữ liệu bao gồm các tài liệu bằng văn bản, được phân
loại, sắp xếp một cách khoa học và từng bước tin học hóa theo
khả năng và điều kiện kinh phí cho phép để tiện quản lý, tra
cứu, sử dụng.
4.2. Căn cứ vào thẩm quyền và phạm vi văn bản được giao kiểm
tra, trách nhiệm tập hợp, xử lý các văn bản quy phạm pháp luật
nói tại tiết a, điểm 4.1 của Mục này được phân công, phân cấp
theo hướng dẫn sau đây:
a. Cục Kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát
văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc
hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các văn
bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành hoặc
liên tịch ban hành để xác lập cơ sở pháp lý phục vụ cho việc
kiểm tra văn bản theo quy định tại khoản 1 Điều 10 (tự kiểm
tra) và khoản 3 Điều 12 (kiểm tra theo thẩm quyền và giúp Thủ
tướng Chính phủ kiểm tra văn bản của bộ, ngành và địa phương)
của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP. Cục Kiểm tra văn bản chủ trì
phối hợp với tổ chức pháp chế các bộ, ngành tổng hợp kết quả
rà soát nói tại tiết b, điểm 4.2 của Mục này để xây dựng hệ
cơ sở dữ liệu chung phục vụ công tác kiểm tra và xử lý văn bản;
b. Tổ chức pháp chế các bộ, ngành có trách nhiệm rà soát văn
bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định về các
vấn đề thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ, ngành đó và các
văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ đó ban hành hoặc liên tịch ban hành để xác lập cơ sở
pháp lý phục vụ cho việc kiểm tra văn bản theo quy định tại
khoản 1 Điều 10 (tự kiểm tra) và khoản 2 Điều 12 (kiểm tra theo
thẩm quyền) của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP;
c. Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát văn bản quy phạm pháp luật
do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban bành và tổng
hợp chung vào hệ cơ sở dữ liệu do Cục Kiểm tra văn bản cung
cấp để phục vụ công tác kiểm tra và xử lý văn bản theo thảm
quyền;
d. Phòng Tư pháp có trách nhiệm rà soát văn bản quy phạm pháp
luật do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện ban hành và
tổng hợp chung vào hệ cơ sở dữ liệu do Sở Tư pháp cung cấp để
phục vụ công tác kiểm tra và xử lý văn bản theo thẩm quyền và
cung cấp cho tư pháp cấp xã để phục vụ công tác là kiểm tra
văn bản của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Trong quá trình rà soát văn bản, nếu phát hiện có văn bản hoặc
quy định mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp nhưng
chưa đủ cơ sở pháp lý để xác định hiệu lực của văn bản hoặc
quy định đó, thì cơ quan, tổ chức rà soát phải báo cáo cơ quan
có thẩm quyền kèm theo kiến nghị, đề xuất cụ thể để xem xét,
quyết định.
5. Công bố kết quả xử lý văn bản trái
pháp luật:
5.1. Kết quả xử lý văn bản trái pháp luật phải
được công bố trên Công báo, các phương tiện thông tin đại chúng
ở trung ương, địa phương theo quy định tại Điều 9 của Nghị định
số 135/2003/NĐ-CP và khoản 2 Điều 6 của Nghị định số l04/2004/NĐ-CP
ngày 23 tháng 3 năm 2004 của Chính phủ về Công báo nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
5.2. Việc công bố kết quả xử lý văn bản trái
pháp luật nói tại điểm 5.1 trên đây cũng được áp dụng đối với
kết quả xử lý văn bản trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm
quyền ban hành văn bản tự kiểm tra văn bản do mình ban hành.
Đối với các văn bản nói tại điểm 1.2 của Mục này (Điều 26 của
Nghị định số 135/2003/NĐ-CP) thì kết quả xử lý phải được gửi
cho tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân mà trước đó văn bản
bị huỷ bỏ đã được gửi; nếu văn bản đó đã được đăng trên Công
báo hoặc đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng thì
kết quả xử lý cũng phải được công bố trên Công báo, đưa tin
trên các phương tiện thông tin đại chúng.
5.3. Việc công bố kết quả xử lý văn bản trái
pháp luật phải được thực hiện trong thời gian sớm nhất sau khi
có quyết định xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn
bản trái pháp luật. Mức độ, thời lượng đưa tin về kết quả xử
lý văn bản trái pháp luật trên các phương tiện thông tin đại
chúng phải tương xứng với việc phổ biến trước đó đối với văn
bản có nội dung trái pháp luật đã bị xử lý.
6. Cục Kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp,
các tổ chức pháp chế bộ, ngành và cơ quan tư pháp địa phương
được giao làm đầu mối giúp kiểm tra và xử lý văn bản có trách
nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí, phát thanh,
truyền hình và các cơ quan thông tin đại chúng khác ở Trung
ương và địa phương để kịp thời tiếp nhận thông tin phản ánh
về văn bản có nội dung trái pháp luật, văn bản có chứa quy phạm
pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy
phạm pháp luật và văn bản do cơ quan không có thẩm quyền ban
hành văn bản quy phạm pháp luật ban hành; đưa tin về kết quả
xử lý văn bản trái pháp luật.
II. về
việc Thực hiện Tự KIểM TRA Và
Xử Lý VĂN BảN THEO Quy ĐịNH Tại chương II
của NGHị ĐịNH số 135/2003/nđ-cp
1. Việc tự kiểm tra
được thực hiện đối với:
a. Văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành (bao gồm
cả văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ liên tịch
ban hành);
b. Các văn bản được nêu tại điểm 1.2 Mục I của Thông tư này
khi có yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của cơ quan, tổ chức, các
cơ quan thông tin đại chúng và của cá nhân.
2. Đối với văn bản quy phạm pháp luật, theo quy định tại khoản
1 Điều 10 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP, trách nhiệm tổ chức
tự kiểm tra được giao cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đã ban hành hoặc liên
tịch ban hành văn bản đó.
Đối với văn bản nói tại tiết b điểm 1 của Mục này, theo quy
định tại khoản 1 Điều 26 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP, trách
nhiệm tổ chức tự kiểm tra được giao cho Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng
nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân nơi có văn bản được ban hành.
3. Tuỳ theo tính chất, phạm vi, yêu cầu quản lý và số lượng
văn bản được ban hành của từng bộ, ngành, địa phương, việc tự
kiểm tra văn bản có thể được giao cho tổ chức pháp chế bộ, ngành,
cơ quan tư pháp địa phương trực tiếp thực hiện hoặc phân công
cho các đơn vị thuộc bộ, ngành, các sở, ban, ngành của địa phương
(sau đây gọi chung là đơn vị) thực hiện theo lĩnh vực được giao
phụ trách với điều kiện bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ và phát
huy vai trò làm đầu mối của tổ chức pháp chế bộ, ngành, cơ quan
tư pháp địa phương trong việc xây dựng kế hoạch, đôn đốc theo
dõi công tác tự kiểm tra, tổng hợp và báo cáo kết quả tự kiểm
tra với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Người đứng đầu tổ chức pháp chế bộ, ngành, cơ quan tư pháp địa
phương có trách nhiệm tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân quy định cụ thể nhiệm vụ của tổ chức
pháp chế bộ, ngành, cơ quan tư pháp địa phương trong việc làm
đầu mối giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
tự kiểm tra văn bản theo quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản
1 Điều 26 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP và các điều kiện bảo
đảm cho công tác tự kiểm tra.
4. Đối với văn bản quy phạm pháp luật đã được cơ quan, người
có thẩm quyền ký ban hành, khi phát hành văn bản, đơn vị phát
hành văn bản có trách nhiệm đồng thời gửi văn bản cho đơn vị
được phân công kiểm tra văn bản đó để thực hiện việc tự kiểm
tra. Khi phát hiện văn bản có nội dung trái pháp luật hoặc không
còn phù hợp, đơn vị được phân công kiểm tra có trách nhiệm thông
báo ngay cho đơn vị đã chủ trì soạn thảo, trình văn bản, đồng
thời phối hợp trao đổi để thống nhất những nội dung trái pháp
luật hoặc không còn phù hợp, thống nhất các biện pháp xử lý
và chuẩn bị dự thảo văn bản xử lý, báo cáo với cơ quan, người
đã ban hành văn bản để kịp thời xử lý theo thẩm quyền.
Đối với văn bản liên tịch, tổ chức pháp chế bộ, ngành có trách
nhiệm tự kiểm tra các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước
của bộ, ngành mình, đồng thời phối hợp với các đơn vị hữu quan
thuộc bộ, ngành, cơ quan, tổ chức đã ký văn bản liên tịch để
kiểm tra toàn bộ nội dung văn bản. Trường hợp phát hiện văn
bản có nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp thì việc
trao đổi, thảo luận và kiến nghị xử lý cũng phải có sự phối
hợp giữa các cơ quan đã ký văn bản liên tịch.
5. Tổ chức pháp chế bộ, ngành, cơ quan tư pháp địa phương có
trách nhiệm theo dõi, tổng hợp kết quả tự kiểm tra và định kỳ
báo cáo công tác tự kiểm tra theo quy định tại Nghị định số
135/2003NĐ-CP và hướng dẫn tại điểm 3 Mục IV của Thông tư này.
Cơ quan người có thẩm quyền ban hành văn bản có trách nhiệm
bảo đảm kinh phí, biên chế và các điều kiện khắc phục vụ cho
việc tự kiểm tra văn bản do mình ban hành.
III.
Về THủ TụC KIểM TRA Và Xử Lý VĂN BảN
THEO QUY ĐịNH TạI MụC 3 CHƯƠNG III
CủA NGHị ĐịNH Số 135/2003/NĐ-CP
1. Việc gửi văn bản
đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản:
1.1. Trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày, kể
từ ngày ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn
bản phải gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn
bản thông qua tổ chức pháp chế hoặc cơ quan tư pháp (sau đây
gọi chung là cơ quan kiểm tra văn bản) theo quy định tại Điều
18 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP. Đối với văn bản của Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh thì ngoài việc gửi cho cơ quan có thẩm quyền kiềm
tra văn bản theo ngành, lĩnh vực còn phải gửi cho Cục kiểm tra
văn bản thuộc Bộ Tư pháp.
Để việc gửi văn bản được thường xuyên, kịp thời theo quy định
của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP, cơ quan, người có thẩm quyền
ban hành văn bản ghi rõ trong mục "Nơi nhận" của văn
bản tên của cơ quan kiểm tra văn bản mà mình có trách nhiệm
gửi văn bản đến để kiểm tra.
1.2. Cơ quan kiểm tra văn bản phải mở "Sổ
văn bản đến" để theo dõi việc gửi và tiếp nhận văn bản
được gửi đến để kiểm tra.
2. Lãnh đạo cơ quan kiểm tra văn bản phân công các chuyên
viên chuyên trách, cộng tác viên tiến hành kiểm tra văn bản.
Người được phân công kiểm tra có trách nhiệm đối chiếu
nội dung văn bản được kiểm tra với cơ sở pháp lý (được hướng
dẫn tại điểm 3 Mục I của Thông tư này) để xem xét, đánh giá
và kết luận về tính hợp pháp của văn bản được kiểm tra.
3. Người được phân công kiểm tra văn bản phải
ký tên vào góc trên của văn bản mà mình đã kiểm tra (để xác
nhận việc kiểm tra) và lập báo cáo kèm theo danh mục những văn
bản đã được phân công kiểm tra.
4. Khi phát hiện văn bản được kiểm tra có nội dung có dấu hiệu
trái pháp luật, người kiểm tra văn bản phải có báo cáo về kết
quả kiểm tra thông qua "Phiếu kiểm tra văn bản".
4.1. "Phiếu kiểm tra văn bản" cần
phải có các nội dung sau đây: Tên người kiểm tra văn bản; tên
văn bản được kiểm tra và văn bản làm cơ sở pháp lý để kiểm tra;
nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; ý kiến của
người kiểm tra về nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm
tra; đề xuất hướng xử lý nội dung trái pháp luật của văn bản
(đình chỉ, sửa đổi, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ
nội dung của văn bản), các biện pháp khắc phục hậu quả do việc
ban hành, thực hiện văn bản trái pháp luật gây ra và đề xuất
hướng xử lý trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền đã
ban hành văn bản trái pháp luật.
4.2. Khi đề xuất hướng xử lý nội dung trái pháp luật
của văn bản, người kiểm tra văn bản có thể:
a. Đề xuất hình thức đình chỉ việc thi hành
một phần hoặc toàn bộ văn bản trong trường hợp nội dung sai
trái đó nếu chưa được sửa đổi, bãi bỏ, huỷ bỏ kịp thời và nếu
tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm
ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân;
b. Đề xuất hình thức sửa đổi trong trường hợp
văn bản được ban hành đúng thẩm quyền nhưng có một phần nội
dung không phù hợp với nội dung văn bản của cơ quan nhà nước
cấp trên mới được ban hành hoặc không còn phù hợp với tình hình
kinh tế - xã hội và cần phải có quy định khác thay thế nội dung
đó;
c. Đề xuất hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn
bộ nội dung của văn bản trong trường hợp nội dung đó trái với
nội dung của văn bản mới được ban hành là cơ sở pháp lý của
văn bản được kiểm tra mà không thuộc trường hợp cần đề xuất
sửa đổi;
d. Đề xuất hình thức huỷ bỏ một phần hoặc toàn
bộ nội dung của văn bản trong trường hợp toàn bộ hoặc một phần
văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm
quyền về nội dung hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật
ngay từ thời điểm ban hành văn bản đó. Việc đề xuất hình thức
huỷ bỏ cũng được áp dụng đối với các văn bản được quy định tại
Điều 26 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP.
4.3. Khi đề xuất hướng xử lý trách nhiệm của
cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật,
người kiểm tra văn bản có thể đề xuất hình thức, mức độ xử lý
theo quy định của pháp luật về trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm
dân sự, trách nhiệm hình sự căn cứ vào nội dung trái pháp luật
và mức độ thiệt hại trên thực tế do văn bản trái pháp luật gây
ra theo quy định tại Điều 8 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP.
Người kiểm tra văn bản cũng có thể đề xuất hình thức xử lý trách
nhiệm nói trên đối với cơ quan, người có trách nhiệm tham mưu,
đề xuất nội dung trái pháp luật trong trường hợp cơ quan, người
đó có lỗi.
5. Sau khi lập phiếu kiểm tra, người kiểm tra
văn bản phải lập "Hồ sơ về văn bản có nội dung trái pháp
luật" và trình lãnh đạo cơ quan kiểm tra văn bản. Hồ sơ
cần có: Văn bản được kiểm tra, văn bản làm cơ sở pháp lý để
kiểm tra, phiếu kiểm tra văn bản.
6. Lãnh đạo cơ quan kiểm tra văn bản tổ chức
thảo luận, trao đổi thống nhất về nội dung có dấu hiệu trái
pháp luật của văn bản được kiểm tra và thông báo để cơ quan,
người đã ban hành văn bản đó tự kiểm tra, xử lý, thông báo kết
quả xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản theo quy định của pháp
luật. Trường hợp cơ quan kiểm tra văn bản là tổ chức pháp chế
bộ, ngành thì việc thông báo được thực hiện theo quy định tại
Điều 20 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP.
Công văn thông báo cần phải có các nội dung sau đây: Tên văn
bản được kiểm tra; cơ sở pháp lý để kiểm tra; ý kiến về nội
dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; yêu cầu cơ quan,
người đã ban hành văn bản đó tự kiểm tra, xử lý theo quy định
của pháp luật.
Việc tự kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật của cơ quan,
người đã ban hành văn bản đó thực hiện theo quy định tại Chương
II của Nghị định số 135/2003/NĐ- CP và hướng dẫn tại Mục II
của Thông tư này.
7. Để giúp cho việc tự kiểm tra, xử lý văn
bản trái pháp luật được tốt, sau khi gửi thông báo, cơ quan
kiểm tra văn bản có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị chức
năng của cơ quan đã ban hành văn bản được kiểm tra để trao đổi,
thảo luận về những nội dung trái pháp luật của văn bản và hướng
xử lý những nội dung trái pháp luật đó. Việc trao đổi, thảo
luận có thể được thực hiện dưới hình thức làm việc trực tiếp
hoặc cơ quan kiểm tra, cơ quan đã ban hành văn bản được kiểm
tra (tùy theo từng trường hợp cụ thể) tổ chức hội thảo, tọa
đàm lấy ý kiến của các chuyên gia, đại diện các cơ quan, tổ
chức hữu quan
khác.
8. Trường hợp cơ quan kiểm tra văn bản không nhất trí
với kết quả xử lý hoặc cơ quan có văn bản trái pháp luật không
thông báo kết quả xử lý theo quy định thì cơ quan kiểm tra văn
bản báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền xử lý tiếp theo quy
định của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP.
Hồ sơ báo cáo cần có: Báo cáo của cơ quan kiểm tra văn bản;
văn bản được kiểm tra; cơ sở pháp lý để kiểm tra; phiếu kiểm
tra văn bản; các công văn thông báo của cơ quan kiểm tra văn
bản, cơ quan có văn bản được kiểm tra và các tài liệu khác có
liên quan.
9. Trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí
mật nhà nước thì việc kiểm tra có thể tiến hành tại cơ quan
có văn bản được kiểm tra hoặc tại cơ quan kiểm tra văn bản (ưu
tiên việc kiểm tra tại cơ quan có văn bản được kiểm tra). Việc
kiểm tra và bảo quản các loại hồ sơ kiểm tra văn bản phải tuân
thủ chế độ bảo mật theo quy định của pháp luật.
10. Việc kiểm tra văn bản liên tịch được thực
hiện theo hướng dẫn tại Thông tư này và phải bảo đảm cơ chế
trao đổi, phối hợp giữa các cơ quan đã ký liên tịch ban hành
văn bản.
11. Việc kiểm tra các văn bản quy định tại
Điều 26 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP được thực hiện khi nhận
được yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của cơ quan tổ chức các cơ
quan thông tin đại chúng và của cá nhân công dân Việt Nam, người
nước ngoài (kể cả trường hợp do cán bộ công chức chuyên trách
kiểm tra, cơ quan kiểm tra văn bản tự phát hiện trong quá trình
kiểm tra văn bản). Thủ tục kiểm tra, xử lý, huỷ bỏ các văn bản
này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Nghị định số
135/2003/NĐ-CP và hướng
dẫn tại Thông tư này.
12. Cơ quan kiểm tra văn bản phải mở "Sổ theo
dõi xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật".
13. Các thông tin, tài liệu về kiểm tra, xử
lý văn bản phải được cơ quan kiểm tra văn bản định kỳ phân loại,
xử lý đưa vào hệ cơ sở dữ liệu theo hướng dẫn tại điểm 4.1 Mục
I của Thông tư này.
IV. Về
KIệN TOàN Tổ CHứC, Đội NGũ CáN Bộ LàM
CÔNG TáC KIểM TRA VĂN BảN; CHế Độ BáO CáO 6 THáNG, HàNG NĂM;
CÔNG TáC THI ĐUA KHEN THƯởNG,
Kỷ LUậT Và QUảN Lý, chỉ đạo
1. Về kiện toàn tổ chức,
tăng cường lực lượng cán bộ chuyên trách kiểm tra văn bản:
1.1. Căn cứ vào phạm vi, tính chất văn bản
thuộc thẩm quyền kiểm tra được pháp luật quy định, tổ chức pháp
chế bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phối hợp với
các đơn vị hữu quan trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quyết định bổ sung biên
chế và bố trí đủ số cán bộ chuyên trách cần thiết để bảo đảm
thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ kiểm tra văn bản được giao.
1.2. Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp phối hợp với
các cơ quan hữu quan ở địa phương xây dựng Đề án về tổ chức,
biên chế chuyên trách thuộc cơ quan tư pháp làm công tác kiểm
tra văn bản ở địa phương báo cáo Uỷ ban nhân dân cùng cấp phê
duyệt để thực hiện.
1.3. Cục Kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp
có phương án tiếp tục củng cố tổ chức, biên chế trình Bộ trưởng
Bộ Tư pháp quyết định; thường xuyên theo dõi tình hình kiện
toàn tổ chức, biên chế làm công tác kiểm tra văn bản ở các bộ,
ngành, địa phương, định kỳ báo cáo Bộ trưởng Bộ Tư pháp để phối
hợp với lãnh đạo các bộ ngành, địa phương chỉ đạo, đôn đốc và
tổng hợp báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
2. Về tổ chức và quản
lý đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản:
2.1. Cơ quan kiểm tra văn bản chịu trách nhiệm
trước cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản trong việc
xây dựng và quản lý đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản.
Cộng tác viên được lựa chọn trong số các chuyên gia có kinh
nghiệm trong lĩnh vực xây dựng và kiểm tra văn bản thuộc các
cơ quan tư pháp, các cơ quan quản lý nhà nước khác ở trung ương
và địa phương, cán bộ nghiên cứu, giảng dậy pháp luật thuộc
các cơ sở nghiên cứu và đào tạo pháp luật, các cơ quan, tổ chức
hữu quan khác phù hợp với lĩnh vực văn bản được kiểm tra.
2.2. Quy mô đội ngũ cộng tác viên của từng
cơ quan kiểm tra văn bản tuỳ thuộc vào phạm vi, tính chất văn
bản thuộc thẩm quyền kiểm tra. Trong công tác kiểm tra văn bản,
cộng tác viên chịu sự quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan
kiểm tra văn bản, hoạt động theo cơ chế khoán việc hoặc hợp
đồng có thời hạn, thực hiện công việc theo yêu cầu của cơ quan
kiểm tra văn bản.
2.3. Chế độ, chính sách đối với cộng tác viên
được thực hiện theo hướng dẫn của Liên bộ Tư pháp và tài chính.
3. Chế độ báo cáo 6 tháng, hàng năm:
3.1. Chế độ báo cáo 6 tháng, hàng năm về công
tác kiểm tra văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được thực hiện
theo quy định tại điểm g khoản 1, điểm g khoản 2 Điều 32, điểm
c khoản 1 Điều 33 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP. Việc lập
và gửi báo cáo 6 tháng, hàng năm về công tác kiểm tra văn bản
được thực hiện cùng với thời hạn gửi báo cáo chung về công tác
6 tháng, hàng năm của cơ quan, đơn vị gửi báo cáo.
3.2. Báo cáo 6 tháng, hàng năm về công tác
kiểm tra văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh được gửi đến Thủ tướng Chính
phủ, Bộ Tư pháp. Báo cáo 6 tháng, hàng năm về công tác kiểm
tra văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp huyện được gửi đến Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh và được tổng hợp vào báo cáo của Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh.
3.3. Cục kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp,
tổ chức pháp chế bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp có trách nhiệm chuẩn bị báo cáo 6
tháng và hàng năm về công tác kiểm tra văn bản trình Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ truởng cơ quan thuộc Chính
phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.
3.4. Báo cáo 6 tháng và hàng năm về công tác
kiểm tra văn bản cần có các nội dung sau đây:
a. Tình hình thực hiện công tác kiểm tra văn
bản theo thẩm quyền trong thời gian báo cáo, bao gồm số liệu
tổng hợp và phân tích, đánh giá đối với từng loại văn bản: do
bộ, ngành, địa phương mình ban hành đã được tự kiểm tra và xử
lý; đã được gửi đến để kiểm tra và thực tế đã kiểm tra; đã phát
hiện có nội dung trái pháp luật và yêu cầu cơ quan, người có
thẩm quyền ban hành văn bản tự kiểm tra, xử lý; đã được xử lý
theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra văn bản đã xử lý theo thẩm
quyền;
b. Đánh giá chung về chất lượng công tác xây
dựng, ban hành văn bản trong lĩnh vực được phân công kiểm tra
thông qua hoạt động kiểm tra văn bản và kiến nghị;
c. Tình hình rà soát văn bản làm cơ sở pháp
lý phục vụ công tác kiểm tra văn bản trong lĩnh vực được giao;
kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc kiểm tra văn
bản;
d. Tình hình tổ chức, cán bộ làm công tác kiểm
tra văn bản và điều kiện bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản;
đ. Hoạt động phối hợp trong thực hiện kiểm
tra văn bản và trao đổi nghiệp vụ; công tác tập huấn, hướng
dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra văn bản;
e. Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị;
g. Những vấn đề khác có liên quan.
4. Về công tác thi đua, khen thưởng và kỷ luật:
4.1. Kết quả, thành tích đạt được trong việc
thực hiện các nhiệm vụ được giao về kiểm tra văn bản là một
trong những tiêu chuẩn thi đua để bình xét thi đua, khen thưởng
trong thành tích chung của đơn vị, cá nhân.
4.2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích,
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong công tác kiểm tra, xử
lý văn bản được khen thưởng theo quy định tại Điều 29, điểm
h khoản 1 và điểm h khoản 2 Điều 32, điểm g khoản 1 Điều 33
của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP và quy định của pháp luật về
khen thưởng.
4.3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi
phạm pháp luật trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản theo quy
định tại Điều 30 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP thì bị xử lý
theo quy định của pháp luật.
5. Về đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công
tác kiểm tra văn bản:
5.1. Việc đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra việc thực
hiện công tác kiểm tra văn bản phải được thực hiện thường xuyên
và định kỳ nhằm bảo đảm công tác kiểm tra văn bản được thực
hiện đúng quy định của pháp luật, kịp thời phát hiện và nhân
rộng những sáng kiến, kinh nghiệm tốt trong công tác kiểm tra
văn bản, biểu dương các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích,
uốn nắn nhũng lệch lạc, phát hiện những khó khăn, vướng mắc
để kịp thời hướng dẫn, giải đáp.
5.2. Cục kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp
có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong việc đôn đốc,
chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra văn bản của
các bộ, ngành, địa phương.
5.3. Tổ chức pháp chế bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp có trách
nhiệm giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,
cấp huyện trong việc đôn đốc, chỉ đạo công tác kiểm tra văn
bản ở bộ, ngành, địa phương
V. Tổ
chức thực hiện
1. Thông tư
này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
2. Cục Kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp, các
tổ chức pháp chế bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp có trách nhiệm giúp Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ,
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện tổ chức thực hiện
Thông tư này.
3. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu
có vướng mắc đề nghị kịp thời phản ánh về Bộ Tư pháp (qua Cục
kiểm tra văn bản) để nghiên cứu, giải quyết.
|
|