|

BỘ
LUẬT HÀNG HẢI
CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỐ 40/2005/QH11 NGÀY 14 THÁNG 6 NĂM 2005
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị
quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội
khoá X, kỳ họp thứ 10;
Bộ luật này quy định về hàng hải.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Bộ luật này quy định về hoạt động hàng hải, bao gồm các quy
định về tàu biển, thuyền bộ, cảng biển, luồng hàng hải, vận
tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm
môi trường và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng
tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hoá, xã hội, thể thao, công
vụ và nghiên cứu khoa học.
Đối với tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thuỷ nội
địa, thuỷ phi cơ, cảng quân sự, cảng cá và cảng, bến thuỷ nội
địa chỉ áp dụng trong trường hợp có quy định cụ thể của Bộ luật
này.
2. Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật hàng
hải Việt Nam với quy định của luật khác về cùng một nội dung
liên quan đến hoạt động hàng hải thì áp dụng quy định của Bộ
luật này.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Bộ luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và
tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến hoạt động hàng hải
tại Việt Nam.
2. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của
Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Điều 3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột
pháp luật
1. Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sở
hữu tài sản trên tàu biển, hợp đồng cho thuê tàu biển, hợp đồng
thuê thuyền viên, hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý,
phân chia tiền công cứu hộ giữa chủ tàu cứu hộ và thuyền bộ
của tàu cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở biển cả, các vụ
việc xảy ra trên tàu biển khi tàu đang ở biển cả thì áp dụng
pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.
2. Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất
chung thì áp dụng pháp luật nơi tàu biển ghé vào ngay sau khi
xảy ra tổn thất chung đó.
3. Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn
đâm va, tiền công cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm xảy ra tại
nội thuỷ hoặc lãnh hải của quốc gia nào thì áp dụng pháp luật
của quốc gia đó.
Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm
va hoặc cứu hộ xảy ra ở biển cả thì áp dụng pháp luật của quốc
gia mà Trọng tài hoặc Toà án của quốc gia đầu tiên đã thụ lý
giải quyết tranh chấp.
Trường hợp tai nạn đâm va xảy ra ở biển cả hoặc trong nội thuỷ,
lãnh hải của quốc gia khác giữa các tàu biển có cùng quốc tịch
thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc
tịch.
4. Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng
vận chuyển hàng hoá thì áp dụng pháp luật của quốc gia nơi hàng
hoá được trả theo hợp đồng.
Điều 4. Quyền thoả thuận trong hợp đồng
1. Các bên tham gia trong hợp đồng liên quan đến hoạt động hàng
hải có quyền thoả thuận riêng, nếu Bộ luật này không hạn chế.
2. Các bên tham gia trong hợp đồng liên quan đến hoạt động hàng
hải mà trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước
ngoài thì có quyền thoả thuận áp dụng luật nước ngoài hoặc tập
quán hàng hải quốc tế trong các quan hệ hợp đồng và chọn Trọng
tài, Toà án ở một trong hai nước hoặc ở một nước thứ ba để giải
quyết tranh chấp.
3. Trong trường hợp Bộ luật này có quy định hoặc các bên có
thoả thuận trong hợp đồng, luật nước ngoài có thể được áp dụng
tại Việt Nam đối với các quan hệ hợp đồng liên quan đến hoạt
động hàng hải, nếu luật đó không trái với các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật Việt Nam.
Điều 5. Nguyên tắc hoạt động hàng hải
1. Hoạt động hàng hải phải tuân theo quy định của Bộ luật này,
quy định khác của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Hoạt động hàng hải phải bảo đảm an toàn hàng hải, quốc phòng,
an ninh; bảo vệ lợi ích, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền
tài phán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Hoạt động hàng hải phải phù hợp với chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước và chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển giao thông vận tải.
4. Hoạt động hàng hải phải bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với
bảo vệ, tái tạo, phát triển môi trường và cảnh quan thiên nhiên
bền vững.
Điều 6. Chính sách phát triển hàng hải
1. Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển
phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc
liên vùng; nâng cao năng lực vận tải của đội tàu biển Việt Nam
và chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ hàng hải tiên tiến.
2. Nhà nước có chính sách khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân
Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư phát triển đội
tàu biển Việt Nam, kết cấu hạ tầng cảng biển và thực hiện các
hoạt động hàng hải khác tại Việt Nam.
Điều 7. Quyền vận tải nội địa
1. Tàu biển Việt Nam được ưu tiên vận tải nội địa đối với hàng
hoá, hành khách và hành lý.
2. Khi tàu biển Việt Nam không có đủ khả năng vận chuyển thì
tàu biển nước ngoài được tham gia vận tải nội địa trong các
trường hợp sau đây:
a) Vận chuyển hàng hoá siêu trường, siêu trọng hoặc các loại
hàng hoá khác bằng tàu biển chuyên dùng;
b) Để phòng chống, khắc phục thiên tai, dịch bệnh hoặc cứu trợ
nhân đạo khẩn cấp;
c) Vận chuyển hành khách và hành lý từ tàu khách du lịch vào
đất liền và ngược lại.
3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định đối với những
trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này.
Giám đốc Cảng vụ hàng hải quyết định đối với trường hợp quy
định tại điểm c khoản 2 Điều này.
Điều 8. Trách nhiệm quản lý nhà nước về hàng hải
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hàng hải.
2. Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực
hiện quản lý nhà nước về hàng hải.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thực
hiện quản lý nhà nước về hàng hải.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình thực hiện quản lý nhà nước về hàng hải tại địa phương.
Điều 9. Thanh tra hàng hải
1. Thanh tra hàng hải thuộc Thanh tra Bộ Giao thông vận tải
thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về hàng hải.
2. Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra hàng
hải thực hiện theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về
thanh tra.
Điều 10. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động
hàng hải
1. Gây phương hại hoặc đe dọa gây phương hại đến chủ quyền và
an ninh của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Vận chuyển người, hàng hoá, hành lý, vũ khí, chất phóng xạ,
chất phế thải độc hại, chất ma tuý trái với quy định của pháp
luật.
3. Cố ý tạo chướng ngại vật gây nguy hiểm hoặc làm cản trở giao
thông hàng hải.
4. Sử dụng, khai thác tàu biển không đăng ký, đăng kiểm hoặc
quá hạn đăng ký, đăng kiểm; giả mạo đăng ký, đăng kiểm.
5. Từ chối tham gia tìm kiếm, cứu nạn trên biển trong trường
hợp điều kiện thực tế cho phép.
6. Gây ô nhiễm môi trường.
7. Xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm người trên
tàu biển; chiếm đoạt, cố ý làm hư hỏng hoặc huỷ hoại tài sản
trên tàu biển; bỏ trốn sau khi gây tai nạn hàng hải.
8. Gây mất trật tự công cộng, cản trở hoặc chống lại việc thực
hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ trên tàu biển và tại
cảng biển.
9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về quản lý
hàng hải; dung túng, bao che cho người có hành vi vi phạm pháp
luật về hàng hải.
10. Các hành vi bị nghiêm cấm khác trong hoạt động hàng hải
theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG II
TÀU BIỂN
MỤC 1: QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 11. Tàu biển
Tàu biển là tàu hoặc cấu trúc nổi di động khác chuyên dùng hoạt
động trên biển.
Tàu biển quy định trong Bộ luật này không bao gồm tàu quân sự,
tàu công vụ và tàu cá.
Điều 12. Tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển Việt Nam là tàu biển đã được đăng ký trong Sổ đăng
ký tàu biển quốc gia Việt Nam hoặc từ khi được cơ quan đại diện
ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp
giấy phép tạm thời mang cờ quốc tịch Việt Nam.
2. Tàu biển Việt Nam có quyền và nghĩa vụ mang cờ quốc tịch
Việt Nam.
3. Chỉ có tàu biển Việt Nam mới được mang cờ quốc tịch Việt
Nam.
Điều 13. Chủ tàu
1. Chủ tàu là người sở hữu tàu biển.
2. Doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước giao quản lý, khai thác
tàu biển cũng được áp dụng các quy định của Bộ luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan như đối với chủ tàu.
MỤC 2
ĐĂNG KÝ TÀU BIỂN
Điều 14. Nguyên tắc đăng ký tàu biển
1. Việc đăng ký tàu biển Việt Nam được thực hiện theo những
nguyên tắc sau đây:
a) Tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam được
đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam bao gồm
đăng ký mang cờ quốc tịch Việt Nam và đăng ký quyền sở hữu tàu
biển đó.
Tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài có đủ
điều kiện quy định tại Điều 16 của Bộ luật này được đăng ký
trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam. Việc đăng ký tàu
biển Việt Nam bao gồm đăng ký mang cờ quốc tịch Việt Nam và
đăng ký quyền sở hữu tàu biển đó hoặc chỉ đăng ký mang cờ quốc
tịch Việt Nam.
Tàu biển nước ngoài do tổ chức, cá nhân Việt Nam thuê theo hình
thức thuê tàu trần, thuê mua tàu có thể được đăng ký mang cờ
quốc tịch Việt Nam;
b) Tàu biển đã đăng ký ở nước ngoài không được đăng ký mang
cờ quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp đăng ký cũ đã được tạm
ngừng hoặc đã bị xoá;
c) Việc đăng ký tàu biển Việt Nam do Cơ quan đăng ký tàu biển
Việt Nam thực hiện công khai và thu lệ phí; tổ chức, cá nhân
có quyền yêu cầu được cấp trích lục hoặc bản sao từ Sổ đăng
ký tàu biển quốc gia Việt Nam và phải nộp lệ phí.
2. Tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam có thể
được đăng ký mang cờ quốc tịch nước ngoài.
Điều 15. Các loại tàu biển phải đăng ký
1. Các loại tàu biển sau đây phải đăng ký vào Sổ đăng ký tàu
biển quốc gia Việt Nam:
a) Tàu biển có động cơ với công suất máy chính từ 75 KW trở
lên;
b) Tàu biển không có động cơ, nhưng có tổng dung tích từ 50
GT trở lên hoặc có trọng tải từ 100 tấn trở lên hoặc có chiều
dài đường nước thiết kế từ 20 mét trở lên;
c) Tàu biển nhỏ hơn các loại tàu biển quy định tại điểm a và
điểm b khoản này, nhưng hoạt động tuyến nước ngoài.
2. Việc đăng ký các loại tàu biển không thuộc trường hợp quy
định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định.
Điều 16. Điều kiện đăng ký tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển khi đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt
Nam phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Giấy tờ hợp pháp chứng minh về sở hữu tàu biển;
b) Giấy chứng nhận dung tích, giấy chứng nhận phân cấp tàu biển;
c) Tên gọi riêng được Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam chấp
thuận;
d) Giấy chứng nhận tạm ngừng đăng ký hoặc xoá đăng ký, nếu tàu
biển đó đã được đăng ký ở nước ngoài;
đ) Chủ tàu có trụ sở, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại
Việt Nam;
e) Tàu biển nước ngoài đã qua sử dụng lần đầu tiên đăng ký hoặc
đăng ký lại tại Việt Nam phải có tuổi tàu phù hợp với từng loại
tàu biển theo quy định của Chính phủ;
g) Đã nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.
2. Tàu biển nước ngoài được tổ chức, cá nhân Việt Nam thuê theo
hình thức thuê tàu trần, thuê mua tàu khi đăng ký mang cờ quốc
tịch Việt Nam, ngoài các điều kiện quy định tại các điểm a,
b, c, d, e và g khoản 1 Điều này phải có hợp đồng thuê tàu trần
hoặc hợp đồng thuê mua tàu.
Điều 17. Trách nhiệm của chủ tàu về đăng ký tàu biển
tại Việt Nam
1. Chủ tàu có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các giấy tờ và khai
báo đầy đủ, chính xác các nội dung liên quan đến tàu biển đăng
ký quy định tại Điều 16 và Điều 19 của Bộ luật này cho Cơ quan
đăng ký tàu biển Việt Nam.
2. Trong trường hợp tàu biển do tổ chức, cá nhân Việt Nam đóng
mới, mua, được tặng cho, thừa kế thì chủ tàu có trách nhiệm
đăng ký tàu biển chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận
tàu tại Việt Nam hoặc từ ngày đưa tàu về đến cảng biển Việt
Nam đầu tiên, nếu tàu biển được nhận ở nước ngoài.
3. Chủ tàu có trách nhiệm nộp lệ phí đăng ký tàu biển theo quy
định của pháp luật.
4. Sau khi chủ tàu hoàn thành việc đăng ký tàu biển thì được
cấp Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam. Giấy chứng nhận
này là bằng chứng về việc tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam
và tình trạng sở hữu tàu biển đó.
5. Chủ tàu có trách nhiệm thông báo chính xác, đầy đủ và kịp
thời cho Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam về mọi thay đổi của
tàu liên quan đến nội dung đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển
quốc gia Việt Nam.
6. Các quy định tại Điều này được áp dụng đối với tổ chức, cá
nhân Việt Nam thuê tàu trần, thuê mua tàu.
Điều 18. Đăng ký tàu biển đang đóng
1. Chủ tàu biển đang đóng có quyền đăng ký tàu biển đang đóng
trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam và được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký tàu biển đang đóng. Giấy chứng nhận này không
có giá trị thay thế Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam.
2. Tàu biển đang đóng khi đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển
quốc gia Việt Nam phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có hợp đồng đóng tàu hoặc hợp đồng mua bán tàu biển đang
đóng;
b) Tàu có tên gọi riêng được Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam
chấp thuận;
c) Tàu đã được đặt sống chính.
Điều 19. Nội dung cơ bản của Sổ đăng ký tàu biển quốc
gia Việt Nam
1. Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam có các nội dung cơ
bản sau đây:
a) Tên cũ, tên mới của tàu biển; tên, nơi đặt trụ sở của chủ
tàu; tên, nơi đặt chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam
của chủ tàu nước ngoài; tên, nơi đặt trụ sở của người thuê tàu
trần, người thuê mua tàu xin đăng ký; tên người khai thác tàu,
nếu có; loại tàu biển và mục đích sử dụng;
b) Cảng đăng ký;
c) Số đăng ký;
d) Thời điểm đăng ký;
đ) Nơi và năm đóng tàu biển;
e) Các thông số kỹ thuật chính của tàu biển;
g) Tình trạng sở hữu tàu biển và những thay đổi có liên quan
đến sở hữu;
h) Thời điểm và lý do của việc tạm ngừng hoặc xoá đăng ký.
2. Mọi thay đổi về nội dung đăng ký quy định tại khoản 1 Điều
này cũng phải được ghi rõ vào Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt
Nam.
Điều 20. Xoá đăng ký tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển Việt Nam được xoá đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển
quốc gia Việt Nam trong các trường hợp sau đây:
a) Bị phá huỷ hoặc chìm đắm mà không thể trục vớt sử dụng lại
được;
b) Mất tích;
c) Không còn đủ điều kiện để được mang cờ quốc tịch Việt Nam;
d) Không còn tính năng tàu biển;
đ) Theo đề nghị của chủ tàu hoặc người đứng tên đăng ký tàu
biển.
2. Trong các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản
1 Điều này, tàu biển đang thế chấp chỉ được xoá đăng ký tàu
biển Việt Nam, nếu người nhận thế chấp tàu biển đó chấp thuận.
3. Khi xoá đăng ký tàu biển hoặc xoá đăng ký tàu biển đang đóng
trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam, Cơ quan đăng ký
tàu biển Việt Nam thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt
Nam hoặc Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển đang đóng và cấp Giấy
chứng nhận xoá đăng ký.
Điều 21. Quy định chi tiết về đăng ký tàu biển
Chính phủ quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của Cơ quan
đăng ký tàu biển Việt Nam; trình tự, thủ tục đăng ký tàu biển
tại Việt Nam; trường hợp tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức,
cá nhân Việt Nam được đăng ký mang cờ quốc tịch nước ngoài;
trường hợp tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài
được đăng ký mang cờ quốc tịch Việt Nam.
Điều 22. Đăng ký tàu công vụ
Tàu công vụ là tàu biển chuyên dùng để thực hiện các công vụ
không vì mục đích thương mại.
Các quy định của Mục này được áp dụng đối với việc đăng ký tàu
công vụ.
MỤC 3
ĐĂNG KIỂM TÀU BIỂN VIỆT NAM
Điều 23. Đăng kiểm tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển Việt Nam phải được tổ chức đăng kiểm Việt Nam hoặc
tổ chức đăng kiểm nước ngoài được Bộ trưởng Bộ Giao thông vận
tải uỷ quyền kiểm tra, phân cấp, cấp các giấy chứng nhận kỹ
thuật về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô
nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định tiêu chuẩn về an
toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường
đối với tàu biển; quy định và tổ chức thực hiện việc đăng kiểm
tàu biển tại Việt Nam.
Điều 24. Kiểm tra, giám sát kỹ thuật đối với tàu biển
Việt Nam
1. Tàu biển đóng mới, hoán cải, phục hồi, sửa chữa phải chịu
sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đăng kiểm về chất lượng, an
toàn kỹ thuật, phù hợp với hồ sơ thiết kế được duyệt và được
cấp giấy chứng nhận có liên quan.
2. Tàu biển trong quá trình hoạt động phải chịu sự kiểm tra
định kỳ của tổ chức đăng kiểm về chất lượng và an toàn kỹ thuật.
Điều 25. Đăng kiểm tàu công vụ
Các quy định của Mục này được áp dụng đối với việc đăng kiểm
tàu công vụ.
MỤC 4
GIẤY CHỨNG NHẬN VÀ TÀI LIỆU CỦA TÀU BIỂN
Điều 26. Giấy chứng nhận và tài liệu của tàu biển
1. Tàu biển phải có Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển, các giấy
chứng nhận về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa
ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể về giấy chứng
nhận và tài liệu của tàu biển Việt Nam.
2. Các giấy chứng nhận về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải
và phòng ngừa ô nhiễm môi trường phải ghi rõ thời hạn có hiệu
lực. Thời hạn này được kéo dài thêm nhiều nhất là chín mươi
ngày, nếu tàu biển thực sự không có điều kiện đến nơi được chỉ
định để kiểm tra và điều kiện kỹ thuật của tàu biển trong thực
tế vẫn bảo đảm an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa
ô nhiễm môi trường. Thời hạn được kéo dài này kết thúc ngay
khi tàu biển đã đến cảng được chỉ định để kiểm tra.
3. Các giấy chứng nhận về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải
và phòng ngừa ô nhiễm môi trường mất hiệu lực, nếu tàu biển
có những thay đổi làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng bảo
đảm an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm
môi trường.
4. Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng tàu biển không bảo
đảm an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm
môi trường, Thanh tra hàng hải, Cảng vụ hàng hải có quyền tạm
đình chỉ hoạt động của tàu biển, tự mình hoặc yêu cầu tổ chức
đăng kiểm Việt Nam kiểm tra kỹ thuật của tàu biển, mặc dù trước
đó tàu biển đã được cấp đủ các giấy chứng nhận về an toàn hàng
hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường.
Điều 27. Giấy chứng nhận dung tích tàu biển
1. Tàu biển Việt Nam và tàu biển nước ngoài khi hoạt động tại
vùng nước cảng biển và vùng biển Việt Nam phải có Giấy chứng
nhận dung tích tàu biển do tổ chức đăng kiểm Việt Nam hoặc tổ
chức đo dung tích tàu biển có thẩm quyền của nước ngoài cấp.
Giấy chứng nhận dung tích tàu biển phải phù hợp với quy định
của pháp luật Việt Nam và điều quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Trường hợp có nghi ngờ về tính xác thực của Giấy chứng nhận
dung tích tàu biển quy định tại khoản 1 Điều này thì cơ quan
nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam tự mình hoặc theo yêu cầu
của tổ chức, cá nhân có liên quan quyết định tiến hành kiểm
tra lại dung tích tàu biển. Trong trường hợp kết quả kiểm tra
không phù hợp với Giấy chứng nhận dung tích tàu biển thì chủ
tàu phải thanh toán các chi phí liên quan đến việc kiểm tra
lại dung tích tàu biển. Trong trường hợp kết quả kiểm tra phù
hợp với Giấy chứng nhận dung tích tàu biển thì cơ quan nhà nước
có thẩm quyền tự quyết định kiểm tra hoặc tổ chức, cá nhân yêu
cầu kiểm tra phải chịu chi phí liên quan đến việc kiểm tra lại
dung tích tàu biển.
MỤC 5
AN TOÀN HÀNG HẢI, AN NINH HÀNG HẢI VÀ PHÒNG NGỪA
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Điều 28. Bảo đảm an toàn hàng hải, an ninh hàng hải
và phòng ngừa ô nhiễm môi trường
1. Tàu biển Việt Nam chỉ được sử dụng vào mục đích đã đăng ký
trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam khi cấu trúc, trang
thiết bị, các giấy chứng chứng nhận và tài liệu của tàu biển,
định biên và khả năng chuyên môn của thuyền bộ phù hợp với quy
định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về an toàn hàng hải,
an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường.
2. Tàu biển khi hoạt động trong vùng nước cảng biển và vùng
biển Việt Nam phải chấp hành quy định của pháp luật Việt Nam
và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa
ô nhiễm môi trường.
3. Tàu biển, tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thuỷ
nội địa và thuỷ phi cơ khi hoạt động trong vùng nước cảng biển
và vùng biển Việt Nam phải tuân theo chỉ dẫn của các báo hiệu
hàng hải và chấp hành quy tắc phòng ngừa đâm va theo quy định
của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
Báo hiệu hàng hải bao gồm các báo hiệu nhận biết bằng hình ảnh,
ánh sáng, âm thanh và tín hiệu vô tuyến được thiết lập để hướng
dẫn cho hoạt động của tàu biển.
4. Trong luồng hàng hải, tại các vị trí cần thiết ven bờ biển,
trên các đảo, tại vùng nước có chướng ngại vật và các công trình
khác trên biển và vùng nước cảng biển mà tàu biển được phép
hoạt động, phải thiết lập các báo hiệu hàng hải theo quy định
của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
Luồng hàng hải là phần giới hạn vùng nước được xác định bởi
hệ thống báo hiệu hàng hải và các công trình phụ trợ khác để
bảo đảm an toàn cho hoạt động của tàu biển và các phương tiện
thủy khác. Luồng hàng hải bao gồm luồng cảng biển và luồng hàng
hải khác.
5. Tàu biển chuyên dùng để vận chuyển dầu mỏ, chế phẩm từ dầu
mỏ hoặc các hàng hoá nguy hiểm khác bắt buộc phải có bảo hiểm
trách nhiệm dân sự của chủ tàu về ô nhiễm môi trường khi hoạt
động trong vùng nước cảng biển và vùng biển Việt Nam.
6. Tàu biển nước ngoài có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân,
tàu vận chuyển chất phóng xạ chỉ được vào hoạt động trong vùng
nước cảng biển, nội thuỷ và lãnh hải Việt Nam sau khi được Thủ
tướng Chính phủ cho phép.
Điều 29. Thanh tra, kiểm tra về an toàn hàng hải, an
ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường
1. Tàu biển khi hoạt động tại vùng nước cảng biển, nội thuỷ
và lãnh hải Việt Nam phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của Thanh
tra hàng hải và Cảng vụ hàng hải về an toàn hàng hải, an ninh
hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo quy định của
pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Việc thanh tra, kiểm tra quy định tại khoản 1 Điều này phải
được tiến hành theo đúng pháp luật và không được làm ảnh hưởng
đến khả năng an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa
ô nhiễm môi trường của tàu biển.
3. Chủ tàu và thuyền trưởng có trách nhiệm tạo điều kiện để
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều
này tiến hành thanh tra, kiểm tra tàu biển.
4. Chủ tàu và thuyền trưởng có trách nhiệm sửa chữa, khắc phục
các khiếm khuyết của tàu biển về an toàn hàng hải, an ninh hàng
hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo yêu cầu của Thanh
tra hàng hải, Cảng vụ hàng hải.
Điều 30. Tìm kiếm và cứu nạn hàng hải
1. Tàu biển, tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thuỷ
nội địa và thuỷ phi cơ khi gặp nguy hiểm cần sự cứu giúp thì
phải phát tín hiệu cấp cứu theo quy định.
2. Tàu biển, tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thuỷ
nội địa và thuỷ phi cơ khi phát hiện hay nhận được tín hiệu
cấp cứu của người hoặc tàu khác gặp nạn trên biển, vùng nước
cảng biển, nếu điều kiện thực tế cho phép và không gây nguy
hiểm nghiêm trọng cho tàu và những người đang ở trên tàu của
mình thì phải bằng mọi cách tiến hành cứu giúp người gặp nạn,
kể cả việc phải đi chệch khỏi hành trình đã định và phải kịp
thời thông báo cho tổ chức, cá nhân liên quan biết.
3. Cơ quan phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải phải sẵn sàng
tổ chức và phối hợp hoạt động tìm kiếm, cứu nạn kịp thời đối
với người gặp nạn trong vùng tìm kiếm, cứu nạn do mình phụ trách
và được quyền huy động người, phương tiện tham gia tìm kiếm,
cứu nạn.
4. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể về tổ chức
và hoạt động của cơ quan phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải.
Điều 31. Điều tra tai nạn hàng hải
1. Tai nạn hàng hải là tai nạn do đâm va hoặc các sự cố liên
quan đến tàu biển gây hậu quả chết người, mất tích, bị thương,
thiệt hại đối với hàng hoá, hành lý, tài sản trên tàu biển,
cảng biển và công trình, thiết bị khác, làm cho tàu biển bị
hư hỏng, chìm đắm, phá huỷ, cháy, mắc cạn hoặc gây ô nhiễm môi
trường.
2. Giám đốc Cảng vụ hàng hải tổ chức điều tra tai nạn hàng hải;
trong quá trình điều tra tai nạn hàng hải, nếu phát hiện có
dấu hiệu cấu thành tội phạm thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều
tra có thẩm quyền.
3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể việc báo
cáo và điều tra tai nạn hàng hải.
MỤC 6
CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU VÀ THẾ CHẤP TÀU BIỂN
Điều 32. Chuyển quyền sở hữu tàu biển
1. Việc chuyển quyền sở hữu tàu biển phải được thể hiện bằng
văn bản theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật
của quốc gia nơi thực hiện chuyển quyền sở hữu tàu biển.
2. Việc chuyển quyền sở hữu tàu biển Việt Nam có hiệu lực sau
khi được ghi trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam.
3. Sau khi hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu thì toàn bộ
tàu biển và tài sản của tàu biển thuộc quyền sở hữu của người
nhận quyền sở hữu, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Tài sản của tàu biển là các đồ vật, trang thiết bị trên tàu
biển mà không phải là các bộ phận cấu thành của tàu biển.
4. Các quy định về chuyển quyền sở hữu tàu biển được áp dụng
đối với việc chuyển quyền sở hữu cổ phần tàu biển.
5. Chính phủ quy định điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển quyền
sở hữu tàu biển dưới hình thức mua, bán.
Điều 33. Thế chấp tàu biển Việt Nam
1. Thế chấp tàu biển là việc chủ tàu dùng tàu biển thuộc sở
hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền
và không phải chuyển giao tàu biển đó cho bên nhận thế chấp
giữ.
2. Chủ tàu có quyền thế chấp tàu biển Việt Nam thuộc sở hữu
của mình cho người nhận thế chấp theo quy định của Bộ luật này
và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Hợp đồng thế chấp tàu biển Việt Nam phải được giao kết bằng
văn bản. Việc thế chấp tàu biển Việt Nam được thực hiện theo
pháp luật Việt Nam.
4. Các quy định về thế chấp tàu biển cũng được áp dụng đối với
việc thế chấp tàu biển đang đóng.
Điều 34. Nguyên tắc thế chấp tàu biển Việt Nam
1. Tàu biển đang thế chấp không được chuyển quyền sở hữu, nếu
không có sự đồng ý của người nhận thế chấp tàu biển.
2. Tàu biển thế chấp phải được chủ tàu mua bảo hiểm, trừ trường
hợp trong hợp đồng thế chấp có thoả thuận khác.
3. Trường hợp người nhận thế chấp đã chuyển toàn bộ hoặc một
phần quyền của mình đối với khoản nợ được bảo đảm bằng tàu biển
thế chấp cho người khác thì việc thế chấp tàu biển đó được chuyển
tương ứng.
4. Một tàu biển có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều
nghĩa vụ, nếu có giá trị lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được
bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Thứ tự ưu tiên của các thế chấp được xác định trên cơ sở thứ
tự đăng ký thế chấp tương ứng trong Sổ đăng ký tàu biển quốc
gia Việt Nam.
5. Việc thế chấp tàu biển thuộc sở hữu của hai chủ sở hữu trở
lên thì phải được sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu đó, trừ
trường hợp có thoả thuận khác.
6. Trường hợp tàu biển bị tổn thất toàn bộ thì việc thế chấp
chấm dứt; người nhận thế chấp được hưởng quyền ưu tiên đối với
khoản tiền bồi thường mà người bảo hiểm trả cho việc bồi thường
tổn thất toàn bộ của tàu biển.
7. Người nhận thế chấp chỉ giữ bản sao Giấy chứng nhận đăng
ký tàu biển của tàu biển thế chấp.
Điều 35. Đăng ký thế chấp tàu biển Việt Nam
1. Đăng ký thế chấp tàu biển Việt Nam có các nội dung cơ bản
sau đây:
a) Tên, nơi đặt trụ sở của người nhận thế chấp và chủ tàu;
b) Tên và quốc tịch của tàu biển được thế chấp;
c) Số tiền được bảo đảm bằng thế chấp, lãi suất và thời hạn
phải trả nợ.
2. Việc thế chấp tàu biển có hiệu lực sau khi được ghi trong
Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam.
3. Thông tin về việc đăng ký thế chấp tàu biển Việt Nam được
cấp cho người có yêu cầu.
4. Người đăng ký thế chấp tàu biển và người khai thác thông
tin về thế chấp tàu biển phải nộp lệ phí.
MỤC 7
QUYỀN CẦM GIỮ HÀNG HẢI
Điều 36. Quyền cầm giữ hàng hải
1. Quyền cầm giữ hàng hải là quyền của người có khiếu nại hàng
hải quy định tại Điều 37 của Bộ luật này được ưu tiên trong
việc đòi bồi thường đối với chủ tàu, người thuê tàu, người khai
thác tàu mà tàu biển đó đã làm phát sinh khiếu nại hàng hải.
Khiếu nại hàng hải là việc một bên yêu cầu bên kia thực hiện
nghĩa vụ phát sinh liên quan đến hoạt động hàng hải.
2. Các khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải
quy định tại Điều 37 của Bộ luật này có thứ tự ưu tiên cao hơn
các khiếu nại hàng hải được bảo đảm bằng thế chấp tàu biển và
các giao dịch bảo đảm khác.
3. Quyền cầm giữ hàng hải được thực hiện thông qua Toà án có
thẩm quyền bằng quyết định bắt giữ tàu biển mà tàu biển đó liên
quan đến khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng
hải.
4. Người có khiếu nại hàng hải có quyền cầm giữ hàng hải đối
với tàu biển để bảo đảm cho các khiếu nại hàng hải quy định
tại Điều 37 của Bộ luật này, mặc dù tàu biển đó đã được thế
chấp hoặc chủ tàu đã thực hiện các giao dịch bảo đảm khác để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác trên cơ sở hợp đồng.
5. Quyền cầm giữ hàng hải đối với tàu biển không bị ảnh hưởng
khi có sự thay đổi chủ tàu, người thuê tàu, người khai thác
tàu, dù người mua tàu biết hay không biết về việc tàu biển đã
liên quan đến khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ
hàng hải.
Điều 37. Khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm
giữ hàng hải
1. Khiếu nại hàng hải về tiền lương, chi phí hồi hương, chi
phí đóng góp bảo hiểm xã hội và các khoản tiền khác phải trả
cho thuyền trưởng, sĩ quan và các thuyền viên khác trong thuyền
bộ của tàu biển.
2. Khiếu nại hàng hải về tiền bồi thường tính mạng, thương tích
và tổn hại khác về sức khoẻ con người liên quan trực tiếp đến
hoạt động của tàu biển.
3. Khiếu nại hàng hải về phí trọng tải, phí bảo đảm hàng hải,
phí hoa tiêu, phí cầu cảng và về các loại phí, lệ phí cảng biển
khác.
4. Khiếu nại hàng hải về tiền công cứu hộ tàu biển.
5. Khiếu nại hàng hải về tổn thất và thiệt hại tài sản ngoài
hợp đồng liên quan trực tiếp đến hoạt động của tàu biển.
Điều 38. Thứ tự ưu tiên giải quyết các khiếu nại hàng
hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải
1. Các khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải
được ưu tiên giải quyết theo thứ tự các khiếu nại quy định tại
Điều 37 của Bộ luật này; trường hợp khiếu nại hàng hải về tiền
công cứu hộ tàu biển phát sinh sau thời điểm các khiếu nại hàng
hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải khác thì xếp ưu tiên
cao hơn các khiếu nại hàng hải đó.
2. Các khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải
trong cùng một khoản quy định tại Điều 37 của Bộ luật này được
xếp ngang nhau; trường hợp khoản tiền phân chia không đủ để
thanh toán giá trị của mỗi khiếu nại hàng hải thì được giải
quyết theo tỷ lệ giá trị giữa các khiếu nại hàng hải đó.
3. Các khiếu nại hàng hải phát sinh từ cùng một sự kiện được
coi là phát sinh trong cùng một thời điểm.
4. Các khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải
đối với tàu biển liên quan đến chuyến đi cuối cùng được ưu tiên
giải quyết trước các khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền
cầm giữ hàng hải liên quan đến các chuyến đi khác.
5. Các khiếu nại hàng hải phát sinh từ cùng một hợp đồng lao
động liên quan đến nhiều chuyến đi được giải quyết cùng với
các khiếu nại hàng hải liên quan đến chuyến đi cuối cùng.
6. Trong trường hợp khiếu nại hàng hải về tiền công cứu hộ quy
định tại khoản 4 Điều 37 của Bộ luật này thì khiếu nại hàng
hải phát sinh sau được giải quyết trước các khiếu nại hàng hải
khác.
Điều 39. Thời hiệu quyền cầm giữ hàng hải
1. Thời hiệu quyền cầm giữ hàng hải là một năm, kể từ thời điểm
phát sinh quyền cầm giữ hàng hải.
2. Thời điểm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải quy định tại khoản
1 Điều này được tính như sau:
a) Từ ngày kết thúc hoạt động cứu hộ, trong trường hợp để giải
quyết tiền công cứu hộ;
b) Từ ngày phát sinh tổn thất, trong trường hợp để giải quyết
các tổn thất và thiệt hại gây ra do hoạt động của tàu biển;
c) Từ ngày phải thanh toán, trong trường hợp để giải quyết các
khiếu nại hàng hải khác.
3. Quyền cầm giữ hàng hải chấm dứt kể từ khi chủ tàu, người
thuê tàu hoặc người khai thác tàu đã thanh toán những khoản
nợ phát sinh từ các khiếu nại hàng hải liên quan; nếu tiền thanh
toán vẫn do thuyền trưởng hoặc người được uỷ quyền thay mặt
chủ tàu, người thuê tàu hoặc người khai thác tàu giữ để thanh
toán các khoản nợ liên quan đến các khiếu nại hàng hải đó thì
quyền cầm giữ hàng hải vẫn còn hiệu lực.
4. Trong trường hợp Toà án không thể thực hiện việc bắt giữ
tàu biển trong phạm vi nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam để bảo vệ
quyền lợi của người khiếu nại hàng hải thường trú hoặc có trụ
sở chính tại Việt Nam thì thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều
này kết thúc sau ba mươi ngày, kể từ ngày tàu đến cảng biển
Việt Nam đầu tiên, nhưng không quá hai năm, kể từ ngày phát
sinh quyền cầm giữ hàng hải.
MỤC 8
BẮT GIỮ TÀU BIỂN
Điều 40. Bắt giữ tàu biển
1. Bắt giữ tàu biển là việc không cho phép tàu biển di chuyển
hoặc hạn chế di chuyển tàu biển bằng quyết định của Toà án để
bảo đảm giải quyết khiếu nại hàng hải quy định tại Điều 41 của
Bộ luật này, nhưng không bao gồm việc bắt giữ tàu biển để thi
hành bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định cưỡng chế
khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Thủ tục bắt giữ tàu biển thực hiện theo quy định của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội.
Điều 41. Khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền bắt
giữ tàu biển
Khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền bắt giữ tàu biển là khiếu
nại trong các trường hợp sau đây:
1. Các trường hợp quy định tại Điều 37 của Bộ luật này;
2. Thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại do tàu biển gây ra cho
môi trường, bờ biển hoặc các lợi ích liên quan; các biện pháp
được áp dụng để ngăn ngừa, hạn chế hoặc loại bỏ thiệt hại này;
tiền bồi thường cho thiệt hại đó; chi phí cho các biện pháp
hợp lý thực tế đã được áp dụng hoặc sẽ được áp dụng để khôi
phục lại môi trường; tổn thất đã xảy ra hoặc có thể xảy ra đối
với bên thứ ba liên quan đến thiệt hại đó; thiệt hại, chi phí
hoặc tổn thất tương tự quy định tại khoản này;
3. Chi phí liên quan đến việc nâng, di chuyển, trục vớt, phá
huỷ hoặc làm vô hại xác tàu biển bị chìm đắm, mắc cạn hoặc bị
từ bỏ, trong đó bao gồm bất kỳ đồ vật đang có hoặc đã có trên
tàu biển và các chi phí hoặc phí tổn liên quan đến việc bảo
quản tàu biển đã bị từ bỏ và chi phí cho thuyền viên của tàu
biển;
4. Thoả thuận liên quan đến việc sử dụng hoặc thuê tàu biển,
mặc dù được quy định trong hợp đồng thuê tàu hay bằng hình thức
khác;
5. Thoả thuận liên quan đến vận chuyển hàng hoá hoặc hành khách
trên tàu biển, mặc dù có quy định trong hợp đồng thuê tàu hoặc
bằng hình thức khác;
6. Tổn thất hoặc thiệt hại liên quan đến hàng hoá, bao gồm cả
hành lý được vận chuyển trên tàu biển;
7. Tổn thất chung;
8. Lai dắt tàu biển;
9. Sử dụng hoa tiêu hàng hải;
10. Hàng hoá, vật liệu, thực phẩm, nhiên liệu, thiết bị (kể
cả công-te-nơ) được cung ứng hoặc dịch vụ cung cấp cho mục đích
hoạt động, quản lý, bảo quản và bảo dưỡng tàu biển;
11. Đóng mới, hoán cải, phục hồi, sửa chữa hoặc trang bị cho
tàu biển;
12. Khoản tiền thanh toán được thực hiện thay mặt chủ tàu;
13. Phí bảo hiểm do chủ tàu, hoặc người nhân danh chủ tàu hoặc
người thuê tàu trần trả;
14. Khoản hoa hồng, chi phí môi giới hoặc chi phí đại lý liên
quan đến tàu biển mà chủ tàu, người thuê tàu trần hoặc người
được uỷ quyền phải trả;
15. Tranh chấp về quyền sở hữu tàu biển;
16. Tranh chấp giữa các đồng sở hữu tàu biển về sử dụng tàu
biển hoặc khoản thu nhập được từ tàu biển;
17. Thế chấp tàu biển;
18. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán tàu biển.
Điều 42. Thực hiện quyền bắt giữ tàu biển
1. Sau khi nhận được yêu cầu bắt giữ tàu biển của người có khiếu
nại hàng hải quy định tại Điều 41 của Bộ luật này, Toà án có
thẩm quyền xem xét, quyết định bắt giữ tàu biển trong các trường
hợp sau đây:
a) Chủ tàu là người chịu trách nhiệm đối với khiếu nại hàng
hải tại thời điểm phát sinh khiếu nại hàng hải và vẫn là chủ
tàu tại thời điểm bắt giữ tàu biển;
b) Người thuê tàu trần là người chịu trách nhiệm đối với khiếu
nại hàng hải tại thời điểm phát sinh khiếu nại hàng hải và vẫn
là người thuê tàu trần hoặc là chủ tàu tại thời điểm bắt giữ
tàu biển;
c) Khiếu nại hàng hải này trên cơ sở của việc thế chấp tàu biển
đó;
d) Khiếu nại hàng hải này liên quan đến quyền sở hữu hoặc chiếm
hữu tàu biển đó;
đ) Khiếu nại hàng hải này được bảo đảm bằng một quyền cầm giữ
hàng hải liên quan đến tàu biển đó.
2. Việc bắt giữ tàu biển cũng được tiến hành đối với một hoặc
nhiều tàu biển khác thuộc quyền sở hữu của người phải chịu trách
nhiệm đối với khiếu nại hàng hải và tại thời điểm khiếu nại
hàng hải đó phát sinh mà người đó là:
a) Chủ sở hữu của tàu biển liên quan đến việc phát sinh khiếu
nại hàng hải;
b) Người thuê tàu trần, người thuê tàu định hạn hoặc người thuê
tàu chuyến của tàu biển liên quan đến việc phát sinh khiếu nại
hàng hải.
3. Quy định tại khoản 2 Điều này không áp dụng đối với khiếu
nại hàng hải liên quan đến quyền sở hữu tàu biển.
Điều 43. Bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu
biển
1. Để thực hiện việc bắt giữ tàu biển, người yêu cầu bắt giữ
phải bảo đảm tài chính theo hình thức và giá trị do Toà án quy
định tương đương với thiệt hại có thể phát sinh do việc yêu
cầu bắt giữ tàu biển.
2. Người yêu cầu bắt giữ tàu biển phải chịu trách nhiệm đối
với tổn thất, thiệt hại xảy ra do hậu quả của việc yêu cầu bắt
giữ sai.
Điều 44. Thả tàu biển sau khi bị bắt giữ
1. Sau khi chủ tàu, người thuê tàu hoặc người khai thác tàu
đã thực hiện những biện pháp bảo đảm thay thế hoặc đã thanh
toán đủ khoản nợ thì tàu biển đang bị bắt giữ phải được thả
ngay.
2. Trong trường hợp không có sự thoả thuận giữa các bên về mức
độ và hình thức bảo đảm thay thế, Toà án sẽ quyết định mức độ
và hình thức bảo đảm thay thế nhưng không vượt quá giá trị tàu
biển bị bắt giữ. Người yêu cầu bắt giữ tàu biển không có quyền
thực hiện bất cứ hành động nào xâm phạm tài sản hoặc quyền lợi
khác của chủ tàu, người thuê tàu hoặc người khai thác tàu.
3. Tàu biển có thể được thả theo yêu cầu của chính người đã
yêu cầu bắt giữ; trong trường hợp này, mọi phí tổn liên quan
do người yêu cầu bắt giữ tàu biển thanh toán.
CHƯƠNG III
THUYỀN BỘ
Điều 45. Thuyền bộ
Thuyền bộ là những thuyền viên thuộc định biên của tàu biển,
bao gồm thuyền trưởng, các sĩ quan và các chức danh khác được
bố trí làm việc trên tàu biển.
Điều 46. Thuyền viên làm việc trên tàu biển
1. Thuyền viên là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn đảm nhiệm
chức danh trên tàu biển Việt Nam.
2. Thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam phải có đủ các
điều kiện sau đây:
a) Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài được phép làm
việc trên tàu biển Việt Nam;
b) Có đủ tiêu chuẩn sức khoẻ, độ tuổi lao động, khả năng chuyên
môn và chứng chỉ chuyên môn theo quy định;
c) Được bố trí đảm nhận chức danh trên tàu biển;
d) Có sổ thuyền viên;
đ) Có hộ chiếu thuyền viên để xuất cảnh hoặc nhập cảnh, nếu
thuyền viên đó được bố trí làm việc trên tàu biển hoạt động
tuyến quốc tế.
3. Công dân Việt Nam có đủ điều kiện có thể được làm việc trên
tàu biển nước ngoài.
4. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể chức danh
và nhiệm vụ theo chức danh của thuyền viên; định biên an toàn
tối thiểu; tiêu chuẩn chuyên môn và chứng chỉ chuyên môn của
thuyền viên; đăng ký thuyền viên, hộ chiếu thuyền viên và sổ
thuyền viên; điều kiện để thuyền viên là công dân Việt Nam được
phép làm việc trên tàu biển nước ngoài và điều kiện để thuyền
viên là công dân nước ngoài làm việc trên tàu biển Việt Nam.
5. Bộ trưởng Bộ Y tế phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giao thông vận
tải quy định cụ thể về tiêu chuẩn sức khoẻ của thuyền viên làm
việc trên tàu biển Việt Nam.
Điều 47. Nghĩa vụ của thuyền viên
1. Thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam có các nghĩa
vụ sau đây:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Việt Nam, điều ước quốc
tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và pháp
luật của quốc gia nơi tàu biển Việt Nam hoạt động;
b) Thực hiện mẫn cán nhiệm vụ của mình theo chức danh được giao
và chịu trách nhiệm trước thuyền trưởng về những nhiệm vụ đó;
c) Thực hiện kịp thời, nghiêm chỉnh, chính xác mệnh lệnh của
thuyền trưởng;
d) Phòng ngừa tai nạn, sự cố đối với tàu biển, hàng hoá, người
và hành lý trên tàu biển. Khi phát hiện tình huống nguy hiểm,
phải báo ngay cho thuyền trưởng hoặc sĩ quan trực ca biết, đồng
thời thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa tai nạn,
sự cố phát sinh từ tình huống nguy hiểm đó;
đ) Quản lý, sử dụng giấy chứng nhận, tài liệu, trang thiết bị,
dụng cụ và các tài sản khác của tàu biển được giao phụ trách;
e) Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
2. Thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển nước ngoài có
nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động đã ký với chủ tàu hoặc
người sử dụng lao động nước ngoài.
Điều 48. Chế độ lao động và quyền lợi của thuyền viên
1. Chế độ lao động và quyền lợi của thuyền viên làm việc trên
tàu biển Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật
Việt Nam.
2. Trường hợp chủ tàu hoặc thuyền trưởng yêu cầu thuyền viên
phải rời tàu biển thì chủ tàu có trách nhiệm chu cấp mọi chi
phí sinh hoạt và đi đường cần thiết để thuyền viên về đúng nơi
quy định trong hợp đồng thuê thuyền viên hoặc về đến cảng đã
tiếp nhận thuyền viên vào làm việc, nếu trong hợp đồng thuê
thuyền viên không có thoả thuận khác; trong trường hợp thuyền
trưởng yêu cầu thuyền viên rời tàu biển thì thuyền trưởng phải
báo cáo chủ tàu.
3. Trường hợp tài sản riêng hợp pháp của thuyền viên bị tổn
thất do tàu biển bị tai nạn thì chủ tàu phải bồi thường tài
sản đó theo giá thị trường tại thời điểm và địa điểm giải quyết
tai nạn. Thuyền viên có lỗi trực tiếp gây ra tai nạn làm tổn
thất tài sản của mình không có quyền đòi bồi thường tài sản
đó.
4. Chế độ lao động và quyền lợi của thuyền viên Việt Nam làm
việc trên tàu biển nước ngoài và của thuyền viên nước ngoài
làm việc trên tàu biển Việt Nam được thực hiện theo hợp đồng
lao động.
Điều 49. Địa vị pháp lý của thuyền trưởng
1. Thuyền trưởng là người có quyền chỉ huy cao nhất ở trên tàu
biển, chỉ huy tàu theo chế độ thủ trưởng. Mọi người có mặt trên
tàu biển phải chấp hành mệnh lệnh của thuyền trưởng.
2. Thuyền trưởng chịu sự chỉ đạo của chủ tàu hoặc người thuê
tàu, người khai thác tàu.
Điều 50. Nghĩa vụ của thuyền trưởng
1. Tổ chức quản lý, khai thác tàu biển theo quy định của pháp
luật.
2. Chăm sóc chu đáo để tàu biển có đủ các điều kiện an toàn
hàng hải cần thiết, phù hợp với tiêu chuẩn chuyên môn, các quy
định về trang thiết bị, vỏ tàu, dự trữ, chất lượng thuyền bộ
và các vấn đề khác có liên quan đến an toàn hàng hải cho tàu
biển và người ở trên tàu biển trước và trong khi tàu biển đang
hành trình.
3. Quan tâm thích đáng để hàng hoá được bốc lên tàu biển, sắp
xếp và bảo quản trên tàu biển, dỡ khỏi tàu một cách hợp lý,
mặc dù các công việc này đã được giao cho những người có trách
nhiệm thực hiện.
4. Chăm sóc chu đáo để hàng hoá trên tàu biển không bị hư hỏng,
mất mát; áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi
của những người có lợi ích liên quan đến hàng hoá; phải tận
dụng mọi khả năng thông báo cho những người có lợi ích liên
quan biết về những sự kiện đặc biệt liên quan đến hàng hoá.
5. Áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ tàu biển, người
và các tài sản khác trên tàu biển.
6. Đưa tàu biển vào cảng an toàn gần nhất và thực hiện mọi biện
pháp cần thiết để bảo vệ tàu, người, tài sản trên tàu và tài
liệu của tàu trong trường hợp cảng trả hàng hoặc cảng trả khách
bị phong toả, chiến tranh đe dọa hoặc trong tình trạng khẩn
cấp khác.
7. Tận dụng mọi khả năng cho phép để trước hết tổ chức cứu hành
khách và sau đó cứu thuyền viên trong trường hợp tàu biển có
nguy cơ bị chìm đắm hoặc bị phá huỷ.
Thuyền trưởng phải là người cuối cùng rời tàu biển sau khi đã
tìm mọi cách cứu nhật ký hàng hải, hải đồ và tài liệu quan trọng
khác của tàu biển.
8. Không được rời tàu biển khi tàu biển đang gặp nguy hiểm,
trừ trường hợp việc rời tàu là hết sức cần thiết.
9. Trực tiếp điều khiển tàu biển ra, vào cảng, kênh đào, luồng
hàng hải và khi tàu hoạt động trong vùng nước cảng biển hoặc
khi xảy ra các tình huống đặc biệt khó khăn, nguy hiểm.
10. Sử dụng hoa tiêu hàng hải, tàu lai trong các trường hợp
do pháp luật quy định hoặc để bảo đảm an toàn cho tàu biển.
Việc sử dụng hoa tiêu hàng hải không loại trừ nghĩa vụ của thuyền
trưởng quy định tại khoản 9 Điều này.
11. Thực hiện mẫn cán các nhiệm vụ thuộc chức trách của mình
theo đúng lương tâm nghề nghiệp.
12. Tổ chức tìm kiếm và cứu nạn những người đang trong tình
trạng nguy hiểm trên biển, nếu việc thực hiện nghĩa vụ này không
gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tàu biển và những người đang
ở trên tàu của mình. Chủ tàu không chịu trách nhiệm về việc
thuyền trưởng vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản này.
13. Thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 51. Quyền của thuyền trưởng
1. Đại diện cho chủ tàu và những người có lợi ích liên quan
đến hàng hoá khi giải quyết những công việc trong điều khiển,
quản trị tàu và hàng hoá được vận chuyển trên tàu biển.
2. Nhân danh chủ tàu và người có lợi ích liên quan đến hàng
hoá thực hiện các hành vi pháp lý trong phạm vi công việc quy
định tại khoản 1 Điều này, có thể khởi kiện hoặc tham gia tố
tụng trước Toà án hoặc Trọng tài khi tàu biển ở ngoài cảng đăng
ký, trừ trường hợp chủ tàu hoặc người có lợi ích liên quan đến
hàng hoá tuyên bố hạn chế một phần hoặc toàn bộ quyền đại diện
đó.
3. Từ chối không cho tàu biển hành trình, nếu xét thấy chưa
đủ điều kiện an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa
ô nhiễm môi trường.
4. Áp dụng các hình thức khen thưởng hoặc biện pháp kỷ luật
đối với thuyền viên thuộc quyền; có quyền từ chối tiếp nhận
hoặc buộc phải rời khỏi tàu biển những thuyền viên không đủ
trình độ chuyên môn theo chức danh hoặc có hành vi vi phạm pháp
luật.
5. Nhân danh chủ tàu vay tín dụng hoặc vay tiền mặt trong trường
hợp cần thiết nhưng chỉ trong giới hạn đủ để sửa chữa tàu biển,
bổ sung thuyền viên, cung ứng cho tàu hoặc vì nhu cầu khác để
có thể tiếp tục chuyến đi.
6. Bán một phần tài sản hoặc phần dự trữ dư thừa của tàu biển
trong phạm vi quy định tại khoản 5 Điều này, nếu việc chờ nhận
tiền hoặc chỉ thị của chủ tàu không có lợi hoặc không thực hiện
được.
7. Trong thời gian thực hiện chuyến đi, nếu không còn cách nào
khác để có đủ các điều kiện cần thiết cho việc kết thúc chuyến
đi thì có quyền cầm cố hoặc bán một phần hàng hoá sau khi đã
tìm mọi cách xin chỉ thị của người thuê vận chuyển và chủ tàu
mà không được. Trong trường hợp này, thuyền trưởng phải giảm
tới mức thấp nhất sự thiệt hại của chủ tàu, người thuê vận chuyển
và những người có lợi ích liên quan đến hàng hoá.
8. Trong khi đang hành trình mà trên tàu biển không còn lương
thực, thực phẩm dự trữ thì có quyền sử dụng một phần hàng hoá
là lương thực, thực phẩm vận chuyển trên tàu; nếu thật cần thiết
thì có quyền sử dụng lương thực, thực phẩm của những người đang
ở trên tàu. Việc sử dụng này phải được lập thành biên bản. Chủ
tàu phải thanh toán số lương thực, thực phẩm đã sử dụng.
9. Trường hợp tàu biển đang trong tình trạng nguy hiểm trên
biển thì có quyền yêu cầu cứu nạn và sau khi thoả thuận với
các tàu đến cứu nạn, có quyền chỉ định tàu thực hiện việc cứu
hộ.
Điều 52. Trách nhiệm của thuyền trưởng về hộ tịch trên
tàu biển
1. Ghi nhật ký hàng hải và lập biên bản với sự tham gia của
nhân viên y tế của tàu biển, hai người làm chứng về các trường
hợp sinh, tử xảy ra trên tàu biển và các sự kiện có liên quan;
bảo quản thi hài, lập bản kê và bảo quản tài sản của người chết
để lại trên tàu biển.
2. Thông báo về các trường hợp sinh, tử xảy ra trên tàu biển
và chuyển di chúc, bản kê tài sản của người chết cho cơ quan
hộ tịch có thẩm quyền ở cảng biển Việt Nam đầu tiên mà tàu biển
ghé vào hoặc cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh
sự của Việt Nam nơi gần nhất, nếu tàu biển đến cảng biển nước
ngoài.
3. Sau khi đã cố gắng tìm mọi cách để xin chỉ thị của chủ tàu
và hỏi ý kiến của thân nhân người chết, thuyền trưởng nhân danh
chủ tàu làm thủ tục và tổ chức mai táng. Mọi chi phí liên quan
đến việc mai táng được thanh toán theo quy định của pháp luật.
Điều 53. Trách nhiệm của thuyền trưởng khi có hành
vi phạm tội trên tàu biển
1. Khi phát hiện hành vi phạm tội trên tàu biển, thuyền trưởng
có trách nhiệm sau đây:
a) Áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết, lập hồ sơ theo
quy định của pháp luật;
b) Bảo vệ chứng cứ và tuỳ theo điều kiện cụ thể, chuyển giao
người có hành vi phạm tội và hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ở cảng Việt Nam đầu tiên tàu biển ghé vào hoặc cho tàu
công vụ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam gặp ở trên
biển hoặc thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ
quan lãnh sự của Việt Nam nơi gần nhất và làm theo chỉ thị của
cơ quan này, nếu tàu biển đến cảng nước ngoài.
2. Trường hợp cần thiết để bảo đảm an toàn, trật tự cho tàu
biển, người và hàng hoá vận chuyển trên tàu, thuyền trưởng có
quyền tạm giữ người đang trên tàu mà có hành vi phạm tội tại
một phòng riêng.
Điều 54. Trách nhiệm của thuyền trưởng trong việc thông
báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của
Việt Nam
1. Khi tàu biển đến cảng nước ngoài, trong trường hợp cần thiết
thuyền trưởng phải thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao
hoặc cơ quan lãnh sự của Việt Nam nơi gần nhất.
2. Thuyền trưởng có trách nhiệm xuất trình các giấy chứng nhận,
tài liệu của tàu biển, nếu cơ quan đại diện ngoại giao hoặc
cơ quan lãnh sự của Việt Nam tại nước đó yêu cầu.
Điều 55. Trách nhiệm báo cáo của thuyền trưởng khi
xảy ra tai nạn hàng hải
Khi xảy ra tai nạn hàng hải đối với tàu biển hay phát hiện các
tai nạn hàng hải hoặc vụ việc khác liên quan đến an toàn hàng
hải tại khu vực tàu biển hoạt động, thuyền trưởng có trách nhiệm
thông báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi gần nhất
biết và báo cáo tai nạn hàng hải theo quy định.
Điều 56. Kháng nghị hàng hải
1. Kháng nghị hàng hải là văn bản do thuyền trưởng lập, công
bố hoàn cảnh tàu biển gặp phải và những biện pháp thuyền trưởng
đã áp dụng để khắc phục hoàn cảnh đó, hạn chế tổn thất xảy ra,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ tàu và những người
có liên quan.
2. Khi tàu biển, người hoặc hàng hoá vận chuyển trên tàu bị
tổn thất hoặc nghi ngờ có tổn thất do gặp tai nạn, sự cố thì
thuyền trưởng phải lập kháng nghị hàng hải và trình cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này để xác
nhận việc trình kháng nghị hàng hải chậm nhất hai mươi bốn giờ
sau khi xảy ra tai nạn hoặc kể từ khi tàu ghé vào cảng biển
đầu tiên sau khi xảy ra tai nạn.
3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận việc trình kháng
nghị hàng hải tại Việt Nam là Cảng vụ hàng hải, cơ quan công
chứng nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất.
Trình tự, thủ tục xác nhận việc trình kháng nghị hàng hải tại
Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận việc trình kháng nghị
hàng hải tại nước ngoài là cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan
lãnh sự của Việt Nam nơi gần nhất hoặc cơ quan có thẩm quyền
của quốc gia nơi tàu biển hoạt động.
Điều 57. Hợp đồng thuê thuyền viên
1. Hợp đồng thuê thuyền viên là hợp đồng lao động được giao
kết bằng văn bản giữa chủ tàu hoặc người sử dụng thuyền viên
với thuyền viên để làm việc trên tàu biển.
2. Hợp đồng thuê thuyền viên có các nội dung chính sau đây:
a) Tên và địa chỉ của người thuê thuyền viên;
b) Tên hoặc danh sách thuyền viên được thuê;
c) Điều kiện làm việc trên tàu biển;
d) Thời hạn thuê thuyền viên;
đ) Tiền lương, tiền thưởng, tiền ăn và các khoản chi phí khác;
e) Chế độ bảo hiểm;
g) Các chế độ khác của thuyền viên;
h) Trách nhiệm của người thuê thuyền viên và thuyền viên.
Điều 58. Trách nhiệm của chủ tàu đối với thuyền bộ
1. Bố trí đủ thuyền viên theo định biên của tàu biển và bảo
đảm thuyền viên phải có đủ điều kiện làm việc trên tàu biển
theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật này.
2. Quy định chức danh, trách nhiệm theo chức danh của thuyền
viên, trừ các chức danh do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy
định.
3. Bảo đảm điều kiện làm việc, sinh hoạt của thuyền viên trên
tàu biển theo quy định của pháp luật.
4. Mua bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm bắt buộc khác cho thuyền
viên làm việc trên tàu biển theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG IV
CẢNG BIỂN
Điều 59. Cảng biển
1. Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng,
được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho
tàu biển ra, vào hoạt động để bốc dỡ hàng hoá, đón trả hành
khách và thực hiện các dịch vụ khác.
Vùng đất cảng là vùng đất được giới hạn để xây dựng cầu cảng,
kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông,
thông tin liên lạc, điện, nước, các công trình phụ trợ khác
và lắp đặt trang thiết bị.
Vùng nước cảng là vùng nước được giới hạn để thiết lập vùng
nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển
tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch; vùng
để xây dựng luồng cảng biển và các công trình phụ trợ khác.
Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng. Bến cảng có một hoặc nhiều
cầu cảng. Bến cảng bao gồm cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ
sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc,
điện, nước, luồng vào bến cảng và các công trình phụ trợ khác.
Cầu cảng là kết cấu cố định thuộc bến cảng, được sử dụng cho
tàu biển neo đậu, bốc dỡ hàng hoá, đón, trả hành khách và thực
hiện các dịch vụ khác.
2. Kết cấu hạ tầng cảng biển bao gồm kết cấu hạ tầng bến cảng
và kết cấu hạ tầng công cộng cảng biển.
Kết cấu hạ tầng bến cảng bao gồm cầu cảng, vùng nước trước cầu
cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao
thông, thông tin liên lạc, điện, nước, luồng nhánh cảng biển
và các công trình phụ trợ khác được xây dựng, lắp đặt cố định
tại vùng đất cảng và vùng nước trước cầu cảng.
Kết cấu hạ tầng công cộng cảng biển bao gồm luồng cảng biển,
hệ thống báo hiệu hàng hải và các công trình phụ trợ khác.
3. Luồng cảng biển là phần giới hạn vùng nước từ biển vào cảng
được xác định bởi hệ thống báo hiệu hàng hải và các công trình
phụ trợ để bảo đảm cho tàu biển và các phương tiện thuỷ khác
ra, vào cảng biển an toàn.
Luồng nhánh cảng biển là phần giới hạn vùng nước từ luồng cảng
biển vào bến cảng, được xác định bởi hệ thống báo hiệu hàng
hải và các công trình phụ trợ, để bảo đảm cho tàu biển và các
phương tiện thuỷ khác ra, vào bến cảng an toàn.
4. Cảng quân sự, cảng cá và cảng, bến thuỷ nội địa nằm trong
vùng nước cảng biển chịu sự quản lý nhà nước về an toàn hàng
hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo
quy định của Bộ luật này.
Điều 60. Phân loại cảng biển
Cảng biển được phân thành các loại sau đây:
1. Cảng biển loại I là cảng biển đặc biệt quan trọng, có quy
mô lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
hoặc liên vùng;
2. Cảng biển loại II là cảng biển quan trọng, có quy mô vừa
phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương;
3. Cảng biển loại III là cảng biển có quy mô nhỏ phục vụ cho
hoạt động của doanh nghiệp.
Điều 61. Chức năng của cảng biển
1. Bảo đảm an toàn cho tàu biển ra, vào hoạt động.
2. Cung cấp phương tiện và thiết bị cần thiết cho tàu biển neo
đậu, bốc dỡ hàng hoá và đón trả hành khách.
3. Cung cấp dịch vụ vận chuyển, bốc dỡ, lưu kho bãi và bảo quản
hàng hoá trong cảng.
4. Để tàu biển và các phương tiện thuỷ khác trú ẩn, sửa chữa,
bảo dưỡng hoặc thực hiện những dịch vụ cần thiết trong trường
hợp khẩn cấp.
5. Cung cấp các dịch vụ khác cho tàu biển, người và hàng hoá.
Điều 62. Công bố đóng, mở cảng biển và vùng nước cảng
biển
1. Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục công bố đóng, mở cảng
biển, vùng nước cảng biển, quản lý luồng hàng hải và hoạt động
hàng hải tại cảng biển.
2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải công bố đóng, mở cảng biển,
vùng nước cảng biển và khu vực quản lý của Cảng vụ hàng hải
sau khi tham khảo ý kiến của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương nơi có cảng biển.
3. Giám đốc Cảng vụ hàng hải quyết định tạm thời không cho tàu
thuyền ra, vào cảng biển.
Điều 63. Quy hoạch phát triển cảng biển
1. Quy hoạch phát triển cảng biển phải căn cứ vào chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; quy
hoạch phát triển giao thông vận tải, các ngành khác, địa phương
và xu thế phát triển hàng hải thế giới.
Ngành, địa phương khi lập quy hoạch xây dựng công trình có liên
quan đến cảng biển phải lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Giao
thông vận tải.
2. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển
hệ thống cảng biển.
3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải phê duyệt quy hoạch chi tiết
phát triển hệ thống cảng biển.
Điều 64. Đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác cảng biển,
luồng cảng biển
1. Đầu tư xây dựng cảng biển, luồng cảng biển phải phù hợp với
quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển, luồng cảng biển, quy
định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng và quy định
của pháp luật có liên quan.
2. Tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài
được đầu tư xây dựng cảng biển, luồng cảng biển theo quy định
của pháp luật.
Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cảng biển, luồng cảng biển
quyết định hình thức quản lý, khai thác cảng biển, luồng cảng
biển.
3. Chính phủ quy định cụ thể về đầu tư xây dựng, quản lý, khai
thác cảng biển, luồng cảng biển.
Điều 65. An toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng
ngừa ô nhiễm môi trường tại cảng biển
Tổ chức, cá nhân hoạt động tại cảng biển phải chấp hành các
quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về an toàn hàng
hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường.
Điều 66. Cảng vụ hàng hải
1. Cảng vụ hàng hải là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về hàng hải tại cảng biển và vùng nước cảng biển.
2. Giám đốc Cảng vụ hàng hải là người chỉ huy cao nhất của Cảng
vụ hàng hải.
3. Bộ Giao thông vận tải quy định về tổ chức và hoạt động của
Cảng vụ hàng hải.
Điều 67. Nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc Cảng vụ hàng
hải
1. Tham gia xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cảng biển
trong khu vực quản lý và tổ chức giám sát thực hiện sau khi
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2. Tổ chức thực hiện quy định về quản lý hoạt động hàng hải
tại cảng biển và khu vực quản lý; kiểm tra, giám sát luồng cảng
biển, hệ thống báo hiệu hàng hải; kiểm tra hoạt động hàng hải
của tổ chức, cá nhân tại cảng biển và khu vực quản lý.
3. Cấp phép, giám sát tàu biển ra, vào và hoạt động tại cảng
biển; không cho phép tàu biển vào cảng khi không có đủ điều
kiện cần thiết về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng
ngừa ô nhiễm môi trường.
4. Thực hiện quyết định bắt giữ tàu biển của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
5. Tạm giữ tàu biển theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật này.
6. Tổ chức tìm kiếm, cứu người gặp nạn trong vùng nước cảng
biển; huy động người và các phương tiện cần thiết để thực hiện
việc tìm kiếm, cứu nạn hoặc xử lý sự cố ô nhiễm môi trường.
7. Tổ chức thực hiện việc đăng ký tàu biển, đăng ký thuyền viên;
thu, quản lý, sử dụng các loại phí, lệ phí cảng biển theo quy
định của pháp luật.
8. Tổ chức thực hiện thanh tra hàng hải, điều tra, xử lý theo
thẩm quyền các tai nạn hàng hải tại cảng biển và khu vực quản
lý.
9. Chủ trì, điều hành việc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan
quản lý nhà nước tại cảng biển.
10. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải theo
thẩm quyền.
11. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp
luật.
Điều 68. Tạm giữ tàu biển
1. Việc tạm giữ tàu biển được thực hiện trong các trường hợp
sau đây:
a) Không có đủ các điều kiện về an toàn hàng hải, an ninh hàng
hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường;
b) Đang trong quá trình điều tra tai nạn hàng hải;
c) Chưa thanh toán xong các khoản phí, lệ phí hàng hải;
d) Chưa trả đủ tiền phạt vi phạm hành chính theo quy định của
pháp luật;
đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Việc tạm giữ tàu biển chấm dứt khi lý do tạm giữ quy định
tại khoản 1 Điều này không còn.
Điều 69. Phối hợp hoạt động quản lý nhà nước tại cảng
biển
1. Các cơ quan quản lý nhà nước về hàng hải, an ninh, kiểm dịch,
hải quan, thuế, văn hoá - thông tin, phòng chống cháy, nổ, bảo
vệ môi trường và các cơ quan quản lý nhà nước khác thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn tại cảng biển theo quy định của pháp luật.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan này
có trách nhiệm phối hợp hoạt động và chịu sự điều hành trong
việc phối hợp hoạt động của Giám đốc Cảng vụ hàng hải.
2. Các cơ quan quản lý nhà nước hoạt động thường xuyên tại cảng
biển được đặt trụ sở làm việc trong cảng. Doanh nghiệp cảng
có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan này thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
CHƯƠNG V
HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
MỤC 1
CÁC QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 70. Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển
1. Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển là hợp đồng
được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển,
theo đó người vận chuyển thu tiền cước vận chuyển do người thuê
vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hoá từ cảng
nhận hàng đến cảng trả hàng.
2. Hàng hoá là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu,
hàng tiêu dùng và các động sản khác, kể cả động vật sống, công-te-nơ
hoặc công cụ tương tự do người gửi hàng cung cấp để đóng hàng
được vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường
biển.
3. Cước vận chuyển là tiền công trả cho người vận chuyển theo
hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.
Điều 71. Các loại hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng
đường biển
Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển bao gồm:
1. Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển là hợp đồng
vận chuyển hàng hoá bằng đường biển được giao kết với điều kiện
người vận chuyển không phải dành cho người thuê vận chuyển nguyên
tàu hoặc một phần tàu cụ thể mà chỉ căn cứ vào chủng loại, số
lượng, kích thước hoặc trọng lượng của hàng hoá để vận chuyển.
Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển được giao kết theo
hình thức do các bên thoả thuận;
2. Hợp đồng vận chuyển theo chuyến là hợp đồng vận chuyển hàng
hoá bằng đường biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển
dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu
cụ thể để vận chuyển hàng hoá theo chuyến.
Hợp đồng vận chuyển theo chuyến phải được giao kết bằng văn
bản.
Điều 72. Các bên liên quan đến hợp đồng vận chuyển
hàng hoá bằng đường biển
1. Người thuê vận chuyển là người tự mình hoặc uỷ quyền cho
người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường
biển với người vận chuyển. Trong trường hợp hợp đồng vận chuyển
theo chứng từ vận chuyển, người thuê vận chuyển được gọi là
người gửi hàng.
2. Người vận chuyển là người tự mình hoặc uỷ quyền cho người
khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển với
người thuê vận chuyển.
3. Người vận chuyển thực tế là người được người vận chuyển uỷ
thác thực hiện toàn bộ hoặc một phần việc vận chuyển hàng hoá
bằng đường biển.
4. Người giao hàng là người tự mình hoặc được người khác uỷ
thác giao hàng cho người vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển
hàng hoá bằng đường biển.
5. Người nhận hàng là người có quyền nhận hàng theo quy định
tại Điều 89 và Điều 110 của Bộ luật này.
Điều 73. Chứng từ vận chuyển
1. Chứng từ vận chuyển bao gồm vận đơn, vận đơn suốt đường biển,
giấy gửi hàng đường biển và chứng từ vận chuyển khác.
2. Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người
vận chuyển đã nhận hàng hoá với số lượng, chủng loại, tình trạng
như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng
chứng về sở hữu hàng hoá dùng để định đoạt, nhận hàng và là
bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.
3. Vận đơn suốt đường biển là vận đơn ghi rõ việc vận chuyển
hàng hoá được ít nhất hai người vận chuyển bằng đường biển thực
hiện.
4. Giấy gửi hàng đường biển là bằng chứng về việc hàng hoá được
nhận như được ghi trong giấy gửi hàng đường biển; là bằng chứng
của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển. Giấy gửi hàng
đường biển không được chuyển nhượng.
5. Chứng từ vận chuyển khác là chứng từ do người vận chuyển
và người thuê vận chuyển thoả thuận về nội dung, giá trị.
MỤC 2
HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ THEO CHỨNG TỪ VẬN CHUYỂN
Điều 74. Thời điểm phát sinh và chấm dứt trách nhiệm
của người vận chuyển
1. Trách nhiệm của người vận chuyển phát sinh từ khi người vận
chuyển nhận hàng tại cảng nhận hàng, được duy trì trong suốt
quá trình vận chuyển và chấm dứt khi kết thúc việc trả hàng
tại cảng trả hàng.
2. Việc nhận hàng được tính từ thời điểm người vận chuyển đã
nhận hàng hoá từ người giao hàng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
hoặc bên thứ ba theo quy định của pháp luật hoặc theo quy định
tại cảng nhận hàng.
3. Việc trả hàng kết thúc trong các trường hợp sau đây:
a) Người vận chuyển hoàn thành việc trả hàng cho người nhận
hàng; trong trường hợp người nhận hàng không trực tiếp nhận
hàng từ người vận chuyển thì bằng cách trả hàng theo yêu cầu
của người nhận hàng phù hợp với hợp đồng, pháp luật hoặc tập
quán thương mại áp dụng tại cảng trả hàng;
b) Người vận chuyển hoàn thành việc trả hàng cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hoặc cho bên thứ ba theo quy định của pháp
luật hoặc quy định tại cảng trả hàng.
4. Các bên tham gia hợp đồng vận chuyển chỉ có quyền thoả thuận
về việc giảm trách nhiệm của người vận chuyển trong các trường
hợp sau đây:
a) Khoảng thời gian từ khi nhận hàng đến trước khi bốc hàng
lên tàu biển và khoảng thời gian từ khi kết thúc dỡ hàng đến
khi trả xong hàng;
b) Vận chuyển động vật sống;
c) Vận chuyển hàng hoá trên boong.
Điều 75. Nghĩa vụ của người vận chuyển
1. Người vận chuyển phải mẫn cán để trước và khi bắt đầu chuyến
đi, tàu biển có đủ khả năng đi biển, có thuyền bộ thích hợp,
được cung ứng đầy đủ trang thiết bị và vật phẩm dự trữ; các
hầm hàng, hầm lạnh và khu vực khác dùng để vận chuyển hàng hoá
có đủ các điều kiện nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hoá phù
hợp với tính chất của hàng hoá.
2. Người vận chuyển chịu trách nhiệm về việc bốc hàng, dỡ hàng
cẩn thận và thích hợp, chăm sóc chu đáo hàng hoá trong quá trình
vận chuyển.
3. Người vận chuyển phải thông báo trong thời gian hợp lý cho
người giao hàng biết trước về nơi bốc hàng lên tàu biển, thời
điểm mà tàu sẵn sàng nhận hàng và thời hạn tập kết hàng hoá.
Việc thông báo này không áp dụng đối với tàu chuyên tuyến, trừ
trường hợp lịch tàu có sự thay đổi.
Điều 76. Hàng hoá chở trên boong
Hàng hoá chỉ được chở trên boong nếu có thoả thuận giữa người
vận chuyển với người giao hàng hoặc theo tập quán thương mại
và phải được ghi rõ trong chứng từ vận chuyển.
Điều 77. Trách nhiệm của người vận chuyển, người vận
chuyển thực tế và người làm công, đại lý
1. Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ quá
trình vận chuyển theo quy định của Mục này mặc dù toàn bộ hoặc
một phần của việc vận chuyển được giao cho người vận chuyển
thực tế thực hiện. Đối với phần vận chuyển do người vận chuyển
thực tế thực hiện, người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về
các hành vi của người vận chuyển thực tế và của người làm công,
đại lý của người vận chuyển thực tế đảm nhiệm trong phạm vi
công việc được giao.
2. Người vận chuyển thực tế, người làm công hoặc đại lý của
người vận chuyển thực tế có quyền hưởng các quyền liên quan
đến trách nhiệm của người vận chuyển quy định tại Chương này
trong thời gian hàng hoá thuộc sự kiểm soát của họ và trong
thời gian những người này tham gia thực hiện bất kỳ hoạt động
nào được quy định tại hợp đồng vận chuyển hàng hoá.
3. Các thoả thuận đặc biệt mà theo đó người vận chuyển đảm nhận
những nghĩa vụ không được quy định tại Chương này hoặc từ bỏ
những quyền được hưởng do Bộ luật này quy định chỉ có hiệu lực
đối với người vận chuyển thực tế nếu được người vận chuyển thực
tế đồng ý bằng văn bản. Dù người vận chuyển thực tế đồng ý hoặc
không đồng ý thì người vận chuyển vẫn bị ràng buộc bởi nghĩa
vụ phát sinh từ các thoả thuận đặc biệt đó.
4. Trong trường hợp cả người vận chuyển và người vận chuyển
thực tế cùng liên đới chịu trách nhiệm thì được xác định theo
mức độ trách nhiệm của mỗi bên.
5. Tổng số tiền bồi thường của người vận chuyển, người vận chuyển
thực tế và người làm công, đại lý của họ phải trả không vượt
quá toàn bộ giới hạn trách nhiệm quy định tại Mục này.
Điều 78. Miễn trách nhiệm của người vận chuyển
1. Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối
với mất mát, hư hỏng hàng hoá do việc tàu biển không đủ khả
năng đi biển, nếu đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định
tại khoản 1 Điều 75 của Bộ luật này. Trong trường hợp này, người
vận chuyển có nghĩa vụ chứng minh đã thực hiện nhiệm vụ một
cách mẫn cán.
2. Người vận chuyển được miễn hoàn toàn trách nhiệm, nếu tổn
thất hàng hoá xảy ra trong các trường hợp sau đây:
a) Lỗi của thuyền trưởng, thuyền viên, hoa tiêu hàng hải hoặc
người làm công của người vận chuyển trong việc điều khiển hoặc
quản trị tàu;
b) Hoả hoạn không do người vận chuyển gây ra;
c) Thảm họa hoặc tai nạn hàng hải trên biển, vùng nước cảng
biển mà tàu biển được phép hoạt động;
d) Thiên tai;
đ) Chiến tranh;
e) Hành động xâm phạm trật tự và an toàn công cộng mà bản thân
người vận chuyển không gây ra;
g) Hành động bắt giữ của người dân hoặc cưỡng chế của Toà án
hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác;
h) Hạn chế về phòng dịch;
i) Hành động hoặc sự sơ suất của người giao hàng, chủ sở hữu
hàng, đại lý hoặc đại diện của họ;
k) Đình công hoặc các hành động tương tự khác của người lao
động do bất kỳ nguyên nhân nào làm đình trệ hoàn toàn hoặc một
phần công việc;
l) Bạo động hoặc gây rối;
m) Hành động cứu người hoặc cứu tài sản trên biển;
n) Hao hụt về khối lượng, trọng lượng hoặc mất mát, hư hỏng
khác của hàng hoá xảy ra do chất lượng, khuyết tật ẩn tỳ hoặc
khuyết tật khác của hàng hoá;
o) Hàng hoá không được đóng gói đúng quy cách;
p) Hàng hoá không được đánh dấu ký, mã hiệu đúng quy cách hoặc
không phù hợp;
q) Khuyết tật ẩn tỳ của tàu biển mà những người có trách nhiệm
không phát hiện được, mặc dù đã thực hiện nhiệm vụ một cách
mẫn cán;
r) Bất kỳ nguyên nhân nào khác xảy ra mà người vận chuyển không
có lỗi hoặc không cố ý gây ra tổn thất hoặc không phải do người
làm công, đại lý của người vận chuyển có lỗi gây ra.
Trong trường hợp có người được hưởng quyền miễn hoàn toàn trách
nhiệm của người vận chuyển theo quy định của pháp luật hoặc
theo sự thoả thuận ghi trong hợp đồng thì người đó phải chứng
minh rằng người vận chuyển đã không có lỗi, không cố ý hoặc
những người làm công, đại lý của người vận chuyển cũng không
có lỗi hoặc không cố ý gây ra sự mất mát, hư hỏng của hàng hoá.
3. Chậm trả hàng là việc hàng hoá không được trả trong khoảng
thời gian đã thoả thuận theo hợp đồng hoặc trong khoảng thời
gian hợp lý cần thiết mà người vận chuyển mẫn cán có thể trả
hàng đối với trường hợp không có thoả thuận. Người vận chuyển
không phải chịu trách nhiệm đối với việc chậm trả hàng trong
các trường hợp sau đây:
a) Đi chệch tuyến đường khi đã có sự chấp thuận của người gửi
hàng;
b) Nguyên nhân bất khả kháng;
c) Phải cứu người hoặc trợ giúp tàu khác đang gặp nguy hiểm
khi tính mạng con người trên tàu có thể bị đe dọa;
d) Cần thời gian để cấp cứu cho thuyền viên hoặc người trên
tàu.
Điều 79. Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển
1. Trong trường hợp chủng loại, giá trị của hàng hoá không được
người gửi hàng, người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng
hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, giấy gửi hàng đường biển
hoặc chứng từ vận chuyển khác thì người vận chuyển chỉ có nghĩa
vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoá hoặc tổn thất khác liên
quan đến hàng hoá trong giới hạn tối đa tương đương với 666,67
đơn vị tính toán cho mỗi kiện hoặc cho mỗi đơn vị hàng hoá hoặc
2 đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của số
hàng hoá bị mất mát, hư hỏng tuỳ theo giá trị hàng hoá.
Đơn vị tính toán quy định trong Bộ luật này là đơn vị tiền tệ
do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Quyền rút
vốn đặc biệt.
Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ
giá tại thời điểm thanh toán bồi thường.
2. Khi công-te-nơ hoặc công cụ tương tự được dùng để đóng hàng
hoá thì mỗi kiện hoặc đơn vị hàng hoá đã ghi trong chứng từ
vận chuyển, đã đóng vào công cụ được coi là một kiện hoặc một
đơn vị hàng hoá quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp chứng
từ vận chuyển không ghi rõ số kiện hoặc đơn vị hàng hoá thì
công-te-nơ hoặc công cụ đó chỉ được xem là một kiện hoặc một
đơn vị hàng hoá.
3. Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng hoá được người
giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển
chấp nhận, ghi vào chứng từ vận chuyển thì người vận chuyển
chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoá trên cơ
sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây:
a) Đối với hàng hoá bị mất mát thì bồi thường bằng giá trị đã
khai báo;
b) Đối với hàng hoá bị hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh
lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hoá.
Giá trị còn lại của hàng hoá được xác định trên cơ sở giá thị
trường tại thời điểm và địa điểm dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ
hàng; nếu không xác định được thì căn cứ vào giá thị trường
tại thời điểm và địa điểm bốc hàng cộng thêm chi phí vận chuyển
đến cảng trả hàng.
4. Trách nhiệm của người vận chuyển đối với việc chậm trả hàng
được giới hạn số tiền bằng 2,5 lần tiền cước của số hàng trả
chậm, nhưng không vượt quá tổng số cước phải trả theo hợp đồng
vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.
Điều 80. Mất quyền giới hạn trách nhiệm của người vận
chuyển
1. Người vận chuyển mất quyền giới hạn trách nhiệm của người
vận chuyển quy định tại Điều 79 của Bộ luật này nếu người khiếu
nại chứng minh được mất mát, hư hỏng hàng hoá là hậu quả do
người vận chuyển đã có hành vi cố ý gây mất mát, hư hỏng, chậm
trả hàng hoặc cẩu thả và biết rằng việc mất mát, hư hỏng hoặc
chậm trả hàng đó có thể xảy ra.
2. Người làm công, đại lý của người vận chuyển thực hiện với
chủ định gây ra mất mát, hư hỏng hàng hoá, chậm trả hàng hoặc
cẩu thả và biết rằng việc mất mát, hư hỏng hoặc chậm trả hàng
đó có thể xảy ra cũng không được giới hạn trách nhiệm quy định
tại Mục này.
Điều 81. Nghĩa vụ của người gửi hàng và người giao
hàng
1. Người gửi hàng phải bảo đảm hàng hoá được đóng gói và đánh
dấu ký, mã hiệu theo quy định. Người vận chuyển có quyền từ
chối bốc lên tàu biển những hàng hoá không bảo đảm các tiêu
chuẩn đóng gói cần thiết.
2. Người gửi hàng phải cung cấp trong một thời gian thích hợp
cho người vận chuyển các tài liệu và chỉ dẫn cần thiết đối với
hàng hoá dễ nổ, dễ cháy và các loại hàng hoá nguy hiểm khác
hoặc loại hàng hoá cần phải có biện pháp đặc biệt khi bốc hàng,
vận chuyển, bảo quản và dỡ hàng.
Người gửi hàng phải bồi thường các tổn thất phát sinh do việc
cung cấp chậm trễ, thiếu chính xác hoặc không hợp lệ các tài
liệu và chỉ dẫn cần thiết.
3. Người gửi hàng hoặc người giao hàng dù cố ý hoặc vô ý đều
phải chịu trách nhiệm đối với người vận chuyển, hành khách,
thuyền viên và các chủ hàng khác về những tổn thất phát sinh
do khai báo hàng hoá không chính xác hoặc không đúng sự thật,
nếu người vận chuyển chứng minh được là người gửi hàng hoặc
người giao hàng có lỗi gây ra tổn thất đó.
Điều 82. Vận chuyển hàng hoá nguy hiểm
1. Người vận chuyển có quyền dỡ hàng hoá khỏi tàu biển, huỷ
bỏ hoặc làm mất khả năng gây hại của hàng hoá dễ nổ, dễ cháy
hoặc hàng hoá nguy hiểm khác mà không phải bồi thường và vẫn
được thu đủ cước, nếu số hàng hoá đó đã được khai báo sai hoặc
do người vận chuyển không được thông báo trước và cũng không
thể nhận biết về những đặc tính nguy hiểm của hàng hoá khi bốc
hàng theo sự hiểu biết nghiệp vụ thông thường.
Người gửi hàng phải chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh.
2. Trong trường hợp người vận chuyển đã nhận bốc lên tàu biển
những hàng hoá nguy hiểm, mặc dù đã được thông báo trước hoặc
đã nhận biết tính chất nguy hiểm của hàng hoá đó theo sự hiểu
biết nghiệp vụ thông thường và đã thực hiện các biện pháp bảo
quản theo đúng quy định, nhưng khi hàng hoá đó đe dọa sự an
toàn của tàu, người và hàng hoá trên tàu thì người vận chuyển
có quyền xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trong trường
hợp này, người vận chuyển chịu trách nhiệm về tổn thất phát
sinh theo các nguyên tắc về tổn thất chung và chỉ được thu cước
cự ly.
Cước cự ly là cước vận chuyển được tính trên cơ sở tỷ lệ giữa
quãng đường mà hàng hoá được vận chuyển trong thực tế so với
toàn bộ quãng đường vận chuyển đã thoả thuận trong hợp đồng,
cũng như trên cơ sở tỷ lệ giữa sự đầu tư chi phí, thời gian,
sự rủi ro hoặc khó khăn thông thường liên quan đến quãng đường
vận chuyển đã thực hiện so với quãng đường vận chuyển còn lại.
Điều 83. Miễn trách nhiệm của người gửi hàng
Người gửi hàng được miễn trách nhiệm bồi thường về các mất mát,
hư hỏng xảy ra đối với người vận chuyển hoặc tàu biển, nếu chứng
minh được rằng mình hoặc người làm công, đại lý của mình không
có lỗi gây ra tổn thất đó.
Điều 84. Thanh toán cước vận chuyển
1. Khi nhận hàng, người nhận hàng phải thanh toán cho người
vận chuyển cước vận chuyển và các chi phí khác được ghi trong
chứng từ vận chuyển, nếu các khoản tiền đó chưa được thanh toán
trước.
2. Người vận chuyển có quyền từ chối trả hàng và có quyền lưu
giữ hàng, nếu người gửi hàng và người nhận hàng chưa thanh toán
đủ các khoản nợ hoặc chưa nhận được sự bảo đảm thoả đáng.
Các khoản nợ này bao gồm cước vận chuyển, các chi phí khác theo
quy định tại khoản 1 Điều này và chi phí đóng góp vào tổn thất
chung, tiền công cứu hộ được phân bổ cho hàng hoá.
Các khoản nợ không trả đúng hạn được tính lãi theo lãi suất
áp dụng tại ngân hàng giao dịch liên quan.
Điều 85. Cước vận chuyển trong trường hợp hàng hoá
bị thiệt hại
1. Trong trường hợp hàng hoá bị thiệt hại do có tai nạn trong
khi tàu biển đang hành trình thì dù với bất cứ nguyên nhân nào
cũng được miễn cước vận chuyển; nếu đã thu thì được hoàn trả
lại. Trong trường hợp hàng hoá được cứu hoặc được hoàn trả lại
thì người vận chuyển chỉ được thu cước cự ly, nếu người có quyền
lợi liên quan đến hàng hoá đó không thu được lợi ích từ quãng
đường mà hàng hoá đó đã được tàu biển vận chuyển.
2. Trường hợp hàng hoá hư hỏng hoặc hao hụt do đặc tính riêng
hoặc hàng hoá là động vật sống mà bị chết trong khi vận chuyển
thì người vận chuyển vẫn có quyền thu đủ cước vận chuyển.
Điều 86. Ký phát vận đơn
1. Theo yêu cầu của người giao hàng, người vận chuyển có nghĩa
vụ ký phát cho người giao hàng một bộ vận đơn.
2. Vận đơn có thể được ký phát dưới các dạng sau đây:
a) Ghi rõ tên người nhận hàng, gọi là vận đơn đích danh;
b) Ghi rõ tên người giao hàng hoặc tên những người do người
giao hàng chỉ định phát lệnh trả hàng, gọi là vận đơn theo lệnh;
c) Không ghi rõ tên người nhận hàng hoặc người phát lệnh trả
hàng, gọi là vận đơn vô danh.
3. Trường hợp trong vận đơn theo lệnh không ghi rõ tên người
phát lệnh trả hàng thì người giao hàng mặc nhiên được coi là
người có quyền đó.
Điều 87. Nội dung của vận đơn
1. Vận đơn bao gồm các nội dung sau đây:
a) Tên và trụ sở chính của người vận chuyển;
b) Tên người gửi hàng;
c) Tên người nhận hàng hoặc ghi rõ vận đơn được ký phát dưới
dạng vận đơn theo lệnh hoặc vận đơn vô danh;
d) Tên tàu biển;
đ) Mô tả về chủng loại, kích thước, thể tích, số lượng đơn vị,
trọng lượng hoặc giá trị hàng hoá, nếu xét thấy cần thiết;
e) Mô tả tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hoá;
g) Ký, mã hiệu và đặc điểm nhận biết hàng hoá mà người giao
hàng đã thông báo bằng văn bản trước khi bốc hàng lên tàu biển
và được đánh dấu trên từng đơn vị hàng hoá hoặc bao bì;
h) Cước vận chuyển và các khoản thu khác của người vận chuyển;
phương thức thanh toán;
i) Nơi bốc hàng và cảng nhận hàng;
k) Cảng trả hàng hoặc chỉ dẫn thời gian, địa điểm sẽ chỉ định
cảng trả hàng;
l) Số bản vận đơn gốc đã ký phát cho người giao hàng;
m) Thời điểm và địa điểm ký phát vận đơn;
n) Chữ ký của người vận chuyển hoặc thuyền trưởng hoặc đại diện
khác có thẩm quyền của người vận chuyển.
Trong vận đơn, nếu thiếu một hoặc một số nội dung quy định tại
khoản này nhưng phù hợp với quy định tại Điều 73 của Bộ luật
này thì không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của vận đơn.
2. Trường hợp tên người vận chuyển không được xác định cụ thể
trong vận đơn thì chủ tàu được coi là người vận chuyển. Trường
hợp vận đơn được lập theo quy định tại khoản 1 Điều này ghi
không chính xác hoặc không đúng sự thật về người vận chuyển
thì chủ tàu chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất phát sinh
và sau đó được quyền yêu cầu người vận chuyển bồi hoàn.
Điều 88. Ghi chú trong vận đơn
1. Người vận chuyển có quyền ghi chú trong vận đơn các nhận
xét của mình nếu có nghi vấn về tình trạng bên ngoài hoặc bao
bì hàng hoá.
2. Người vận chuyển có quyền từ chối ghi trong vận đơn sự mô
tả về hàng hoá, nếu có đủ căn cứ nghi ngờ tính chính xác về
lời khai báo của người gửi hàng, người giao hàng ở thời điểm
bốc hàng hoặc khi không có điều kiện xác minh.
3. Người vận chuyển có quyền từ chối ghi trong vận đơn ký, mã
hiệu hàng hoá, nếu chúng chưa được đánh dấu rõ ràng trên từng
kiện hàng hoặc bao bì, bảo đảm dễ nhận thấy khi chuyến đi kết
thúc.
4. Trường hợp hàng hoá được đóng gói trước khi giao cho người
vận chuyển thì người vận chuyển có quyền ghi vào vận đơn là
không biết rõ nội dung bên trong.
5. Người vận chuyển không chịu trách nhiệm bồi thường mất mát,
hư hỏng hàng hoá hoặc tổn thất liên quan đến hàng hoá trong
mọi trường hợp, nếu người gửi hàng, người giao hàng đã cố tình
khai gian về chủng loại, giá trị của hàng hoá khi bốc hàng và
khai báo đó đã được ghi nhận vào vận đơn.
Điều 89. Chuyển nhượng vận đơn
1. Vận đơn theo lệnh được chuyển nhượng bằng cách ký hậu vận
đơn. Người ký hậu cuối cùng có quyền phát lệnh trả hàng trong
vận đơn theo lệnh là người nhận hàng hợp pháp.
2. Vận đơn vô danh được chuyển nhượng bằng cách người vận chuyển
trao vận đơn vô danh đó cho người được chuyển nhượng. Người
xuất trình vận đơn vô danh là người nhận hàng hợp pháp.
3. Vận đơn đích danh không được chuyển nhượng. Người có tên
trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp.
Điều 90. Thay vận đơn bằng chứng từ vận chuyển khác
Người giao hàng có thể thoả thuận với người vận chuyển việc
thay vận đơn bằng giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận
chuyển khác và thoả thuận về nội dung, giá trị của các chứng
từ này theo tập quán hàng hải quốc tế.
Điều 91. Áp dụng đối với vận đơn suốt đường biển
Các quy định của Bộ luật này về vận đơn được áp dụng đối với
vận đơn suốt đường biển do người vận chuyển ký phát, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
Điều 92. Quyền định đoạt hàng hoá của người gửi hàng
1. Người gửi hàng có quyền định đoạt hàng hoá cho đến khi hàng
được trả cho người nhận hàng hợp pháp, nếu chưa giao quyền này
cho người khác; có quyền yêu cầu dỡ hàng trước khi tàu biển
bắt đầu chuyến đi, thay đổi người nhận hàng hoặc cảng trả hàng
sau khi chuyến đi đã bắt đầu với điều kiện phải bồi thường mọi
tổn thất và chi phí liên quan. Người vận chuyển chỉ có nghĩa
vụ thực hiện các yêu cầu của người gửi hàng sau khi đã thu lại
toàn bộ số vận đơn gốc đã ký phát.
2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này không được áp dụng,
nếu việc thực hiện gây ra sự chậm trễ đáng kể cho việc bắt đầu
chuyến đi, trừ trường hợp người vận chuyển đồng ý.
Điều 93. Nghĩa vụ trả hàng
Khi tàu biển đến cảng trả hàng, người vận chuyển có nghĩa vụ
trả hàng cho người nhận hàng hợp pháp nếu có vận đơn gốc, giấy
gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác có giá trị
để nhận hàng quy định tại Điều 89 của Bộ luật này. Sau khi hàng
hoá đã được trả, các chứng từ vận chuyển còn lại không còn giá
trị để nhận hàng.
Điều 94. Xử lý hàng hoá bị lưu giữ
1. Người nhận hàng không đến nhận, từ chối nhận hàng hoặc trì
hoãn việc nhận hàng thì người vận chuyển có quyền dỡ hàng và
gửi vào một nơi an toàn, thích hợp và thông báo cho người gửi
hàng biết. Mọi chi phí và tổn thất phát sinh do người nhận hàng
chịu trách nhiệm chi trả.
2. Người vận chuyển có quyền thực hiện theo quy định tại khoản
1 Điều này, nếu có nhiều người cùng xuất trình vận đơn, vận
đơn suốt đường biển, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ
vận chuyển khác có giá trị để nhận hàng.
3. Việc bồi thường tổn thất do lưu tàu để dỡ hàng và gửi hàng
quy định tại khoản 1 Điều này được giải quyết tương tự trường
hợp lưu tàu để bốc hàng.
4. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày tàu biển đến cảng
trả hàng, nếu không có người nhận số hàng gửi hoặc người nhận
hàng không thanh toán hết các khoản nợ hoặc không đưa ra bảo
đảm cần thiết thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá số hàng
đó để trừ nợ; nếu là hàng hoá mau hỏng hoặc việc gửi là quá
tốn kém so với giá trị thực tế của hàng hoá thì người vận chuyển
có quyền bán đấu giá trước thời hạn đó.
Người vận chuyển có nghĩa vụ thông báo cho người gửi hàng biết
về những trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều này
và dự định bán hàng để trừ nợ theo quy định tại khoản này.
5. Việc xử lý hàng hoá do người vận chuyển lưu giữ tại cảng
biển Việt Nam quy định tại Điều này thực hiện theo quy định
của Chính phủ.
Điều 95. Tiền bán đấu giá hàng hoá
1. Sau khi khấu trừ các khoản nợ của người nhận hàng, các chi
phí liên quan đến việc gửi và bán đấu giá hàng hoá quy định
tại Điều 94 của Bộ luật này, số tiền còn thừa phải được gửi
vào ngân hàng để trả lại cho người có quyền nhận số tiền đó.
2. Trường hợp tiền bán hàng không đủ để thanh toán các khoản
tiền quy định tại khoản 1 Điều này thì người vận chuyển có quyền
tiếp tục yêu cầu những người có liên quan phải trả đủ.
3. Trong thời hạn một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày bán đấu
giá hàng hoá mà không có người yêu cầu nhận lại số tiền còn
thừa thì số tiền này được sung công quỹ nhà nước.
Điều 96. Giám định và thông báo về mất mát, hư hỏng
hàng hoá hoặc chậm trả hàng
1. Người nhận hàng trước khi nhận hàng tại cảng trả hàng hoặc
người vận chuyển trước khi giao hàng tại cảng trả hàng có thể
yêu cầu cơ quan giám định tiến hành giám định hàng hoá. Bên
yêu cầu giám định có nghĩa vụ thanh toán chi phí giám định nhưng
có quyền truy đòi chi phí đó từ bên gây ra thiệt hại.
2. Hàng hoá được coi là đã trả đủ và đúng như ghi trong vận
đơn, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác,
nếu người nhận hàng không thông báo bằng văn bản cho người vận
chuyển về mất mát, hư hỏng hàng hoá chậm nhất là ba ngày, kể
từ ngày nhận hàng, nếu không thể phát hiện thiệt hại từ bên
ngoài; đối với hàng hoá đã giám định quy định tại khoản 1 Điều
này thì không cần thông báo bằng văn bản.
Mọi thoả thuận trái với quy định tại khoản này đều không có
giá trị.
3. Người nhận hàng có quyền thông báo mất hàng, nếu không nhận
được hàng trong vòng sáu mươi ngày, kể từ ngày hàng hoá lẽ ra
phải được giao theo thoả thuận trong hợp đồng.
4. Người vận chuyển không phải bồi thường đối với tổn thất phát
sinh do việc chậm trả hàng, trừ trường hợp thông báo về việc
chậm trả hàng bằng văn bản được gửi tới người vận chuyển trong
vòng sáu mươi ngày, kể từ ngày hàng hoá lẽ ra được giao theo
thoả thuận trong hợp đồng.
Điều 97. Thời hiệu khởi kiện về hư hỏng, mất mát hàng
hoá
Thời hiệu khởi kiện về hư hỏng, mất mát hàng hoá vận chuyển
theo chứng từ vận chuyển là một năm, kể từ ngày trả hàng hoặc
lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng.
MỤC 3
HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN THEO CHUYẾN
Điều 98. Sử dụng tàu biển trong hợp đồng vận chuyển
theo chuyến
Người vận chuyển có nghĩa vụ dùng tàu biển đã được chỉ định
trong hợp đồng để vận chuyển hàng hoá, trừ trường hợp người
thuê vận chuyển đồng ý cho người vận chuyển thay thế tàu biển
đã được chỉ định bằng tàu khác.
Điều 99. Chuyển giao quyền trong hợp đồng vận chuyển
theo chuyến
Người thuê vận chuyển có thể chuyển giao quyền theo hợp đồng
cho người thứ ba mà không cần người vận chuyển đồng ý, nhưng
vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng đã giao
kết.
Điều 100. Ký phát vận đơn trong hợp đồng vận chuyển
theo chuyến
Trường hợp vận đơn được ký phát theo hợp đồng vận chuyển theo
chuyến và người giữ vận đơn không phải là người thuê vận chuyển
thì các quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển và người giữ
vận đơn sẽ được điều chỉnh bằng các điều khoản của vận đơn;
nếu các điều khoản của hợp đồng vận chuyển theo chuyến đã được
đưa vào vận đơn thì các điều khoản này được áp dụng.
Điều 101. Cảng nhận hàng và nơi bốc hàng
1. Người vận chuyển có nghĩa vụ đưa tàu biển đến cảng nhận hàng
trong trạng thái sẵn sàng để nhận hàng đúng thời điểm và địa
điểm; lưu tàu biển tại nơi bốc hàng theo các điều kiện đã thoả
thuận trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá.
2. Người vận chuyển đưa tàu biển đến nơi bốc hàng do người thuê
vận chuyển chỉ định. Nơi bốc hàng phải an toàn, không gây trở
ngại cho việc tàu biển vào, ra, chờ đợi cùng với hàng hoá. Trong
trường hợp có nhiều người thuê vận chuyển mà họ không thoả thuận
được về nơi bốc hàng hoặc khi người thuê vận chuyển không chỉ
định rõ nơi bốc hàng thì người vận chuyển đưa tàu biển đến địa
điểm được coi là nơi bốc hàng theo tập quán địa phương.
3. Trường hợp trong hợp đồng không có thoả thuận cụ thể về nơi
bốc hàng tại cảng nhận hàng thì người vận chuyển đưa tàu biển
đến địa điểm được coi là nơi bốc hàng theo tập quán địa phương.
4. Người thuê vận chuyển có thể yêu cầu người vận chuyển thay
đổi nơi bốc hàng, mặc dù nơi bốc hàng đã được ghi rõ trong hợp
đồng. Người thuê vận chuyển phải thanh toán đầy đủ các chi phí
liên quan đến việc thực hiện yêu cầu này.
Điều 102. Thời hạn bốc hàng
1. Thời hạn bốc hàng do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nếu
không có thoả thuận thì áp dụng tập quán địa phương.
2. Thời gian gián đoạn do người thuê vận chuyển gây ra, thời
gian thay đổi nơi bốc hàng theo yêu cầu của người thuê vận chuyển
được tính vào thời hạn bốc hàng.
3. Thời gian gián đoạn do người vận chuyển gây ra, do các nguyên
nhân bất khả kháng, điều kiện thời tiết làm ảnh hưởng đến việc
bốc hàng đúng kỹ thuật hoặc có thể gây nguy hiểm cho việc bốc
hàng không được tính vào thời hạn bốc hàng.
4. Người thuê vận chuyển có thể thoả thuận với người vận chuyển
về chế độ thưởng cho việc bốc hàng xong trước thời hạn hoặc
phạt đối với việc bốc hàng quá thời hạn bốc hàng đã thoả thuận.
Điều 103. Thời hạn dôi nhật
1. Các bên tham gia hợp đồng có thể thoả thuận trong hợp đồng
về thời gian cho phép kéo dài ngoài thời hạn bốc hàng quy định
tại Điều 102 của Bộ luật này (sau đây gọi là thời hạn dôi nhật).
Trường hợp trong hợp đồng không quy định cụ thể số ngày, giờ
thì thời hạn dôi nhật được các bên liên quan xác định theo tập
quán địa phương.
2. Tiền thanh toán về thời hạn dôi nhật do các bên thoả thuận
trong hợp đồng; trường hợp không có thoả thuận thì xác định
theo tập quán địa phương. Trường hợp tập quán địa phương không
có thì khoản tiền này được xác định trên cơ sở tổng chi phí
thực tế để duy trì tàu biển và thuyền bộ trong thời hạn dôi
nhật.
3. Thời gian tàu biển phải lưu lại cảng nhận hàng sau thời hạn
bốc hàng và thời hạn dôi nhật do người thuê vận chuyển gây ra
gọi là thời gian lưu tàu. Người vận chuyển có quyền đòi bồi
thường các thiệt hại phát sinh do lưu tàu.
Điều 104. Thông báo sẵn sàng
1. Người vận chuyển có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho người
thuê vận chuyển về việc tàu biển đã đến cảng nhận hàng và sẵn
sàng để nhận hàng (sau đây gọi là Thông báo sẵn sàng).
2. Ngày, giờ có hiệu lực của Thông báo sẵn sàng do các bên thoả
thuận trong hợp đồng, trường hợp không có thoả thuận thì được
xác định theo tập quán địa phương.
3. Người vận chuyển phải bồi thường thiệt hại phát sinh do nội
dung của Thông báo sẵn sàng không đúng với sự thật ở thời điểm
người thuê vận chuyển nhận được văn bản này.
Điều 105. Thay thế hàng hoá
1. Người thuê vận chuyển có quyền thay thế hàng hoá đã được
ghi trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng loại hàng hoá khác
có tính chất tương đương, nhưng không được làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của người vận chuyển và những người thuê vận chuyển
khác.
2. Giá cước vận chuyển đối với loại hàng hoá thay thế không
được thấp hơn giá cước đã thoả thuận đối với loại hàng hoá bị
thay thế.
Điều 106. Bốc hàng và xếp hàng trên tàu biển
1. Hàng hoá phải được sắp xếp trên tàu biển theo Sơ đồ hàng
hoá do thuyền trưởng quyết định. Việc xếp hàng hoá trên boong
phải được người thuê vận chuyển đồng ý bằng văn bản.
2. Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo việc bốc hàng,
sắp xếp, chằng buộc và ngăn cách hàng hoá ở trên tàu biển. Các
chi phí liên quan do hai bên thoả thuận trong hợp đồng.
Điều 107. Tàu rời cảng nhận hàng
1. Người vận chuyển có quyền cho tàu biển rời cảng nhận hàng
sau khi thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật trong hợp đồng
vận chuyển theo chuyến đã kết thúc, mặc dù toàn bộ hàng hoá
hoặc một phần hàng hoá được thuê vận chuyển chưa được bốc lên
tàu biển do những nguyên nhân thuộc về người thuê vận chuyển.
Trong trường hợp này, người vận chuyển vẫn được thu đủ tiền
cước vận chuyển, kể cả tiền cước của số hàng hoá chưa được bốc
lên tàu biển; cước thu đối với số hàng hoá đó gọi là cước khống.
2. Trường hợp cho thuê nguyên tàu biển, người vận chuyển có
quyền thu đủ tiền cước, nhưng phải thực hiện các yêu cầu sau
đây của người thuê vận chuyển:
a) Cho tàu biển khởi hành trước thời hạn;
b) Bốc lên tàu biển số hàng hoá đã tập kết ở nơi bốc hàng, mặc
dù thời hạn dôi nhật đã kết thúc, nếu việc bốc số hàng hoá đó
chỉ làm lưu tàu trong thời hạn không quá mười bốn ngày và vẫn
được hưởng quyền lợi quy định tại khoản 3 Điều 103 của Bộ luật
này.
3. Trong trường hợp cho thuê một phần tàu biển, người vận chuyển
có quyền thu đủ cước và từ chối bốc lên tàu số hàng hoá được
đưa đến sau thời hạn bốc hàng hoặc sau thời hạn dôi nhật đã
thoả thuận do nguyên nhân thuộc về người thuê vận chuyển.
Điều 108. Tuyến đường và thời gian vận chuyển
1. Người vận chuyển phải thực hiện việc vận chuyển hàng hoá
trong thời gian hợp lý, theo đúng tuyến đường quy định trong
hợp đồng hoặc theo tuyến đường thường lệ, nếu trong hợp đồng
không có thoả thuận khác.
2. Người vận chuyển không bị coi là vi phạm hợp đồng, nếu tàu
biển phải đi chệch tuyến đường để cứu người gặp nạn trên biển
hoặc vì lý do chính đáng khác. Người vận chuyển không phải chịu
trách nhiệm bồi thường các tổn thất hàng hoá phát sinh do tàu
biển phải đi chệch tuyến đường trong các trường hợp này.
Điều 109. Cảng thay thế
1. Khi tàu biển không vào được cảng trả hàng do những nguyên
nhân không thể vượt qua được và không có khả năng chờ đợi để
vào cảng trả hàng sau một thời gian hợp lý thì người vận chuyển
được phép đưa tàu biển vào một cảng thay thế an toàn gần nhất
và phải thông báo cho người thuê vận chuyển biết để xin chỉ
thị.
2. Trường hợp cho thuê nguyên tàu biển thì tuỳ theo điều kiện
cụ thể, thuyền trưởng phải xin chỉ thị về cảng thay thế và hành
động theo chỉ thị của người thuê vận chuyển; nếu không có khả
năng thực hiện chỉ thị của người thuê vận chuyển hoặc sau một
thời gian chờ đợi hợp lý mà vẫn không nhận được chỉ thị của
người thuê vận chuyển thì thuyền trưởng có thể dỡ hàng khỏi
tàu biển hoặc vận chuyển hàng quay lại cảng nhận hàng, tuỳ theo
sự suy xét của mình, sao cho quyền lợi của người thuê vận chuyển
được bảo vệ chính đáng. Người thuê vận chuyển phải trả cho người
vận chuyển cước cự ly và chi phí liên quan.
3. Trường hợp cho thuê một phần tàu biển thì thuyền trưởng cũng
có quyền hành động quy định tại khoản 1 Điều này, nếu sau năm
ngày kể từ ngày xin chỉ thị mà vẫn không nhận được chỉ thị của
người thuê vận chuyển hoặc không có khả năng thực hiện chỉ thị.
Người thuê vận chuyển phải trả cho người vận chuyển đủ cước
và chi phí liên quan.
Điều 110. Dỡ hàng và trả hàng
1. Việc dỡ hàng do thuyền trưởng quyết định. Người vận chuyển
có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo việc dỡ hàng.
2. Người thuê vận chuyển có quyền định đoạt hàng hoá cho đến
khi hàng được trả cho người nhận hàng hợp pháp, nếu chưa giao
quyền này cho người khác; có quyền yêu cầu dỡ hàng trước khi
tàu biển bắt đầu chuyến đi, thay đổi người nhận hàng hoặc cảng
trả hàng sau khi chuyến đi đã bắt đầu với điều kiện phải bồi
thường mọi tổn thất và chi phí liên quan.
3. Các quyền quy định tại khoản 2 Điều này không được áp dụng,
nếu việc thực hiện gây ra sự chậm trễ đáng kể cho việc bắt đầu
chuyến đi, trừ trường hợp người vận chuyển đồng ý.
Điều 111. Cước vận chuyển
1. Trường hợp hàng hoá được bốc lên tàu biển vượt quá khối lượng
đã thoả thuận trong hợp đồng thì người vận chuyển chỉ có quyền
thu tiền cước vận chuyển theo giá cước đã thoả thuận đối với
số hàng hoá đó.
2. Trường hợp hàng hoá được bốc lậu lên tàu biển thì người vận
chuyển có quyền thu gấp đôi tiền cước vận chuyển từ cảng nhận
hàng đến cảng trả hàng và được bồi thường các tổn thất phát
sinh do việc xếp số hàng hoá bốc lậu đó trên tàu. Người vận
chuyển có quyền dỡ số hàng hoá bốc lậu đó tại bất cứ cảng nào,
nếu xét thấy cần thiết.
3. Khi nhận hàng, người nhận hàng phải thanh toán cho người
vận chuyển tiền cước vận chuyển, tiền bồi thường do lưu tàu
hoặc các chi phí khác liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá,
nếu các khoản tiền đó chưa được thanh toán trước.
Điều 112. Thanh toán cước vận chuyển, lưu kho và xử
lý tiền bán đấu giá hàng hoá
Các quy định về thanh toán cước vận chuyển, xử lý hàng hoá bị
lưu giữ, tiền bán đấu giá hàng hoá tại các điều 84, 85, 94 và
95 của Bộ luật này được áp dụng tương tự đối với việc vận chuyển
hàng hoá theo hợp đồng vận chuyển theo chuyến.
Điều 113. Quyền chấm dứt hợp đồng của người thuê vận
chuyển
1. Người thuê vận chuyển có quyền chấm dứt hợp đồng trong các
trường hợp sau đây:
a) Người vận chuyển không đưa tàu biển đến nơi bốc hàng đúng
thời điểm thoả thuận, chậm trễ trong việc bốc hàng hoặc bắt
đầu chuyến đi; trong trường hợp này, người thuê vận chuyển có
quyền yêu cầu bồi thường các tổn thất phát sinh;
b) Khi hàng đã xếp xong mà vẫn chưa bắt đầu chuyến đi hoặc khi
tàu biển đang thực hiện chuyến đi, người thuê vận chuyển có
quyền yêu cầu dỡ hàng và phải trả đủ tiền cước vận chuyển, chi
phí liên quan cho người vận chuyển.
2. Người vận chuyển có quyền từ chối, không thực hiện yêu cầu
dỡ hàng của người thuê vận chuyển quy định tại điểm b khoản
1 Điều này, nếu xét thấy việc đó làm chậm trễ chuyến đi hoặc
ảnh hưởng đến quyền lợi của những người liên quan do phải thay
đổi lịch trình đã định.
3. Trường hợp thuê nguyên tàu biển, người thuê vận chuyển có
quyền chấm dứt hợp đồng trước khi tàu biển bắt đầu chuyến đi,
nhưng phải bồi thường các chi phí liên quan, tuỳ theo thời điểm
chấm dứt hợp đồng, người thuê vận chuyển còn phải trả tiền cước
theo các nguyên tắc sau đây:
a) Trả một nửa tiền cước vận chuyển, nếu chấm dứt hợp đồng trước
khi tính thời hạn bốc hàng;
b) Trả đủ tiền cước vận chuyển, nếu chấm dứt hợp đồng sau khi
tính thời hạn bốc hàng hoặc chấm dứt hợp đồng sau khi tính thời
hạn dôi nhật, nếu hợp đồng chỉ giao kết cho một chuyến;
c) Trả đủ tiền cước vận chuyển của cả chuyến đi mà người thuê
vận chuyển chấm dứt hợp đồng trước khi bắt đầu chuyến đi cộng
thêm một nửa tiền cước vận chuyển của tất cả các chuyến đi tiếp
theo, nếu hợp đồng được giao kết cho nhiều chuyến.
4. Trường hợp người thuê vận chuyển chấm dứt hợp đồng theo quy
định tại khoản 3 Điều này thì người vận chuyển có nghĩa vụ lưu
tàu tại nơi bốc hàng cho đến khi hàng hoá được dỡ xong, mặc
dù việc đó vượt quá thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật.
5. Trường hợp thuê một phần tàu biển thì người thuê vận chuyển
có quyền chấm dứt hợp đồng và phải bồi thường các chi phí liên
quan, tuỳ theo thời điểm chấm dứt hợp đồng, người thuê vận chuyển
còn phải trả tiền cước vận chuyển theo các nguyên tắc sau đây:
a) Trả một nửa tiền cước vận chuyển, nếu chấm dứt hợp đồng sau
thời hạn tập kết hàng hoá đã thoả thuận;
b) Trả đủ tiền cước vận chuyển, nếu chấm dứt hợp đồng trong
khi tàu biển đang thực hiện chuyến đi.
Điều 114. Quyền chấm dứt hợp đồng của người vận chuyển
Người vận chuyển có quyền chấm dứt hợp đồng trước khi bắt đầu
chuyến đi, nếu số hàng hoá đã bốc lên tàu biển chưa đủ theo
hợp đồng và tổng giá trị của số hàng hoá đó không đủ để bảo
đảm cho tiền cước vận chuyển và các chi phí liên quan mà người
vận chuyển phải chi cho hàng hoá, trừ trường hợp người thuê
vận chuyển đã trả đủ tiền cước vận chuyển hoặc có sự bảo đảm
cần thiết. Người thuê vận chuyển phải trả các chi phí liên quan
đến việc dỡ hàng và một nửa tiền cước vận chuyển đã thoả thuận.
Điều 115. Chấm dứt hợp đồng không phải bồi thường
1. Các bên tham gia hợp đồng có quyền chấm dứt hợp đồng mà không
phải bồi thường, nếu trước khi tàu biển bắt đầu rời khỏi nơi
bốc hàng đã xảy ra các sự kiện sau đây:
a) Chiến tranh đe dọa sự an toàn của tàu biển hoặc hàng hoá;
cảng nhận hàng hoặc cảng trả hàng được công bố bị phong toả;
b) Tàu biển bị bắt giữ hoặc tạm giữ theo quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền mà không do lỗi của các bên tham gia
hợp đồng;
c) Tàu biển bị Nhà nước trưng dụng;
d) Có lệnh cấm vận chuyển hàng hoá ra khỏi cảng nhận hàng hoặc
vào cảng trả hàng.
2. Bên chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp quy định tại khoản
1 Điều này phải chịu chi phí dỡ hàng.
3. Các bên có quyền chấm dứt hợp đồng, nếu các sự kiện quy định
tại khoản 1 Điều này xảy ra trong khi tàu biển đang hành trình;
trong trường hợp này, người thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả
tiền cước cự ly và chi phí dỡ hàng.
Điều 116. Hợp đồng đương nhiên chấm dứt
1. Hợp đồng đương nhiên bị chấm dứt, không bên nào phải bồi
thường thiệt hại, nếu sau khi hợp đồng đã giao kết và trước
khi tàu biển rời khỏi nơi bốc hàng mà không bên nào có lỗi trong
các trường hợp sau đây:
a) Tàu biển được chỉ định trong hợp đồng bị chìm đắm, mất tích,
bị cưỡng đoạt;
b) Hàng hoá ghi trong hợp đồng bị mất;
c) Tàu biển được chỉ định trong hợp đồng được coi là hư hỏng
không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không kinh tế.
2. Trong trường hợp tàu biển đang hành trình mà xảy ra các trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì người vận chuyển chỉ có
quyền thu cước cự ly; nếu chỉ có tàu biển bị tổn thất mà hàng
hoá được cứu thoát hoặc được hoàn trả thì người vận chuyển có
quyền thu cước cự ly đối với số hàng hoá đó.
Điều 117. Bảo quản hàng hoá khi chấm dứt hợp đồng
Khi hợp đồng chấm dứt theo các quy định tại Mục này thì người
vận chuyển vẫn phải có nghĩa vụ chăm sóc hàng hoá đến khi giao
cho người có quyền nhận hàng, trừ trường hợp quy định tại điểm
a và điểm b khoản 1 Điều 116 của Bộ luật này.
Điều 118. Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp
đồng vận chuyển theo chuyến
Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng vận chuyển theo
chuyến là hai năm, kể từ ngày người khiếu nại biết hoặc phải
biết quyền lợi của mình bị xâm phạm.
MỤC 4
HỢP ĐỒNG VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC
Điều 119. Hợp đồng vận tải đa phương thức
1. Hợp đồng vận tải đa phương thức là hợp đồng được giao kết
giữa người gửi hàng và người kinh doanh vận tải đa phương thức,
theo đó người kinh doanh vận tải đa phương thức đảm nhiệm vận
chuyển hàng hoá để thu tiền cước cho toàn bộ quá trình vận chuyển,
từ địa điểm nhận hàng đến địa điểm trả hàng cho người nhận hàng
bằng ít nhất hai phương thức vận tải, trong đó phải có phương
thức vận tải bằng đường biển.
2. Người kinh doanh vận tải đa phương thức là người tự mình
hoặc uỷ quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận tải đa phương
thức với người gửi hàng.
3. Người gửi hàng là người tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác
giao kết hợp đồng vận tải đa phương thức với người kinh doanh
vận tải đa phương thức.
4. Chứng từ vận tải đa phương thức là bằng chứng của hợp đồng
vận tải đa phương thức, xác nhận việc người kinh doanh vận tải
đa phương thức nhận hàng để vận chuyển và cam kết trả hàng theo
đúng thoả thuận của hợp đồng.
Điều 120. Trách nhiệm của người kinh doanh vận tải
đa phương thức
1. Người kinh doanh vận tải đa phương thức phải chịu trách nhiệm
đối với hàng hoá theo hợp đồng vận tải đa phương thức từ thời
điểm nhận hàng cho đến khi trả hàng.
2. Người kinh doanh vận tải đa phương thức có thể ký các hợp
đồng riêng với những người vận chuyển của từng phương thức vận
tải, trong đó xác định trách nhiệm của từng bên tham gia đối
với mỗi phương thức vận tải. Các hợp đồng riêng này không ảnh
hưởng đến trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương
thức đối với toàn bộ quá trình vận chuyển.
Điều 121. Giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh
vận tải đa phương thức
1. Trường hợp hàng hoá bị mất mát, hư hỏng xảy ra ở một phương
thức vận tải nhất định của quá trình vận chuyển, các quy định
của pháp luật tương ứng điều chỉnh phương thức vận tải đó của
vận tải đa phương thức được áp dụng đối với trách nhiệm và giới
hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức.
2. Trường hợp không thể xác định được hàng hoá bị mất mát, hư
hỏng xảy ra ở phương thức vận tải nào thì người kinh doanh vận
tải đa phương thức phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy
định về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của người vận
chuyển tại Điều 78 và Điều 79 của Bộ luật này.
Điều 122. Quy định chi tiết về vận tải đa phương thức
Chính phủ quy định chi tiết về vận tải đa phương thức.
CHƯƠNG VI
HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH VÀ
HÀNH LÝ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
Điều 123. Vận chuyển hành khách và hành lý
1. Hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý bằng đường biển
là hợp đồng được giao kết giữa người vận chuyển và hành khách,
theo đó người vận chuyển dùng tàu biển vận chuyển hành khách,
hành lý từ cảng nhận khách đến cảng trả khách và thu tiền công
vận chuyển hành khách, tiền cước hành lý do hành khách trả.
2. Người vận chuyển là người trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người
khác giao kết hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý với
hành khách.
3. Người vận chuyển thực tế là người được người vận chuyển uỷ
thác thực hiện toàn bộ hoặc một phần việc vận chuyển hành khách
và hành lý.
4. Hành khách là người được vận chuyển trên tàu biển theo hợp
đồng vận chuyển hành khách hoặc người được người vận chuyển
đồng ý cho đi cùng phương tiện vận tải, động vật sống được vận
chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng hoá.
5. Hành lý là đồ vật hoặc phương tiện vận tải được vận chuyển
theo hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường biển, trừ các
trường hợp sau đây:
a) Đồ vật và phương tiện vận tải được vận chuyển theo hợp đồng
vận chuyển hàng hoá;
b) Động vật sống.
6. Hành lý xách tay là hành lý mà hành khách giữ trong phòng
mình hoặc thuộc sự giám sát, chăm sóc, kiểm soát của mình.
Điều 124. Chứng từ vận chuyển hành khách và hành lý
1. Chứng từ vận chuyển hành khách và hành lý bao gồm:
a) Vé đi tàu là bằng chứng về việc giao kết hợp đồng vận chuyển
hành khách;
b) Giấy nhận hành lý là bằng chứng về việc hành lý của hành
khách đã được gửi.
2. Người vận chuyển có quyền thay thế vé bằng chứng từ tương
đương, nếu hành khách được vận chuyển trên tàu biển không phải
là tàu chở khách chuyên dụng.
3. Người vận chuyển quy định việc miễn, giảm, ưu tiên mua và
hoàn trả vé hành khách và cước hành lý.
Điều 125. Quyền và nghĩa vụ của hành khách
1. Hành khách được hưởng mọi quyền lợi theo đúng hạng vé và
không phải trả tiền cước vận chuyển đối với hành lý xách tay
trong phạm vi trọng lượng và chủng loại do người vận chuyển
quy định.
2. Hành khách có quyền chấm dứt hợp đồng vận chuyển trước khi
tàu khởi hành hoặc sau khi chuyến đi đã bắt đầu ở bất kỳ cảng
nào mà tàu ghé vào để đón hoặc trả khách và có quyền nhận lại
tiền vé hoặc số tiền tương ứng của phần vé chưa sử dụng, sau
khi đã trừ các chi phí hoặc tiền phạt nếu có.
3. Hành khách có nghĩa vụ phục tùng sự chỉ huy của thuyền trưởng,
chấp hành nội quy, chỉ dẫn trên tàu và tuân theo sự hướng dẫn
của sĩ quan và thuyền viên có trách nhiệm.
4. Những thoả thuận nhằm hạn chế quyền của hành khách hoặc miễn,
giảm trách nhiệm của người vận chuyển quy định tại Chương này
đều không có giá trị.
Điều 126. Nghĩa vụ và quyền của người vận chuyển
1. Người vận chuyển có nghĩa vụ mẫn cán hợp lý để bảo đảm cho
tàu biển đủ khả năng đi biển, bao gồm cả định biên thuyền bộ,
trang bị, cung ứng cần thiết kể từ lúc bắt đầu việc vận chuyển,
trong suốt quá trình vận chuyển cho đến cảng trả khách.
2. Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc và bảo vệ chu đáo hành
khách và hành lý của họ từ khi nhận khách lên tàu biển cho đến
khi hành khách và hành lý của họ rời tàu ở cảng trả khách an
toàn; chịu mọi phí tổn để đưa đón, chu cấp ăn uống và phục vụ
sinh hoạt cần thiết trong các trường hợp đặc biệt xảy ra ngoài
dự kiến trong thời gian tàu thực hiện chuyến đi.
3. Người vận chuyển có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm dân
sự của người vận chuyển đối với hành khách.
4. Người vận chuyển có quyền từ chối thực hiện hợp đồng mà không
phải bồi thường, nếu xảy ra các trường hợp sau đây:
a) Chiến tranh hoặc những sự kiện khác làm phát sinh mối đe
dọa tàu biển có thể bị bắt giữ;
b) Cảng nhận khách hoặc cảng trả khách được công bố bị phong
toả;
c) Tàu biển bị bắt giữ, tạm giữ theo quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền mà không do lỗi của các bên tham gia
hợp đồng;
d) Tàu biển bị Nhà nước trưng dụng;
đ) Có lệnh cấm vận chuyển hành khách ra khỏi cảng nhận khách
hoặc vào cảng trả khách.
5. Trường hợp người vận chuyển từ chối thực hiện hợp đồng vận
chuyển theo quy định tại khoản 4 Điều này trước khi tàu biển
khởi hành thì phải hoàn trả cho hành khách tiền vé và tiền cước
hành lý.
Trường hợp chuyến đi đã bắt đầu, người vận chuyển phải trả lại
cho hành khách một phần tiền vé theo tỷ lệ với quãng đường vận
chuyển chưa được thực hiện; đồng thời, có nghĩa vụ đưa hành
khách trở lại cảng nhận khách bằng chi phí của mình hoặc đền
bù cho hành khách một khoản tiền tương đương.
6. Trường hợp hành khách không có mặt tại tàu đúng thời điểm
quy định, kể cả khi tàu ghé vào cảng trong thời gian thực hiện
chuyến đi thì người vận chuyển có quyền không trả lại tiền vé
đã thu.
7. Người vận chuyển có quyền hoãn thời gian tàu khởi hành, thay
đổi tuyến đường vận chuyển, thay đổi nơi đón hoặc trả khách,
nếu các điều kiện vệ sinh và dịch tễ bất lợi ở nơi khởi hành,
nơi đến hoặc dọc theo tuyến đường vận chuyển cũng như những
tình huống khác xảy ra ngoài khả năng kiểm soát của mình. Tuỳ
theo yêu cầu của hành khách, người vận chuyển phải chịu chi
phí đưa hành khách về cảng nhận khách hoặc đền bù cho hành khách
những tổn thất thực tế hợp lý.
8. Những quy định tại khoản 7 Điều này không làm hạn chế quyền
của hành khách từ chối thực hiện hợp đồng vận chuyển.
Điều 127. Trách nhiệm của người vận chuyển và người
vận chuyển thực tế trong vận chuyển hành khách
Trách nhiệm của người vận chuyển và người vận chuyển thực tế
trong vận chuyển hành khách bằng đường biển được áp dụng theo
quy định tại Điều 77 của Bộ luật này.
Điều 128. Miễn trách nhiệm của người vận chuyển khi
hành khách bị bắt giữ
Người vận chuyển không chịu trách nhiệm về việc hành khách bị
cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại cảng mà tàu biển ghé vào
trong thời gian thực hiện chuyến đi bắt giữ do những nguyên
nhân hành khách tự gây ra.
Điều 129. Xử lý đối với hành khách lậu vé
1. Hành khách lậu vé là người đã trốn lên tàu biển khi tàu ở
trong cảng hoặc địa điểm thuộc phạm vi cảng mà không được sự
đồng ý của người vận chuyển, thuyền trưởng hoặc người có trách
nhiệm của tàu và vẫn ở trên tàu sau khi tàu đã rời cảng hoặc
địa điểm thuộc phạm vi cảng.
2. Hành khách lậu vé có nghĩa vụ trả đủ tiền công vận chuyển
cho quãng đường đã đi và một khoản tiền phạt bằng số tiền công
vận chuyển phải trả này.
3. Thuyền trưởng có quyền đưa hành khách lậu vé lên bờ hoặc
chuyển sang một tàu khác để đưa về cảng nơi hành khách đó đã
lên tàu và phải thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
về tên, tuổi, quốc tịch của hành khách lậu vé, nơi hành khách
lên tàu và trốn trên tàu.
4. Trường hợp hành khách lậu vé được chấp nhận cho đi tiếp quãng
đường còn lại thì phải mua vé và có quyền, nghĩa vụ như những
hành khách khác.
Điều 130. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người
vận chuyển
1. Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với
thiệt hại do hành khách chết, bị thương hoặc tổn hại khác về
sức khoẻ và mất mát, hư hỏng hành lý, nếu sự cố gây thiệt hại
xảy ra trong quá trình vận chuyển do lỗi của người vận chuyển,
người làm công, đại lý của người vận chuyển gây ra trong phạm
vi công việc được giao.
Lỗi của người vận chuyển, người làm công, đại lý của người vận
chuyển được coi là đương nhiên, trừ trường hợp chứng minh được
rằng hành khách chết, bị thương hoặc tổn hại khác về sức khoẻ
và mất mát, hư hỏng hành lý xách tay xảy ra do sự cố đâm va,
chìm đắm, phá huỷ, mắc cạn, nổ, cháy hoặc khuyết tật của tàu
biển.
Lỗi của người vận chuyển, người làm công, đại lý của người vận
chuyển được coi là đương nhiên, trừ trường hợp chứng minh được
rằng mất mát, hư hỏng các loại hành lý khác không phụ thuộc
nguyên nhân gây ra mất mát, hư hỏng đó.
Trong các trường hợp khác, trách nhiệm chứng minh lỗi thuộc
về người khiếu nại.
2. Trách nhiệm chứng minh thiệt hại và mức độ tổn thất, thiệt
hại xảy ra do sự cố đâm va, chìm đắm, phá huỷ, mắc cạn, nổ,
cháy hoặc khuyết tật của tàu biển trong quá trình vận chuyển
thuộc về người khiếu nại.
Điều 131. Quá trình vận chuyển hành khách và hành lý
1. Quá trình vận chuyển hành khách bằng đường biển bắt đầu từ
khi hành khách lên tàu biển và chấm dứt khi hành khách rời tàu,
bao gồm cả việc vận chuyển hành khách từ đất liền ra tàu và
ngược lại, nếu những chi phí vận chuyển đó đã được tính trong
tiền vé đi tàu.
2. Quá trình vận chuyển hành lý xách tay của hành khách quy
định tương tự khoản 1 Điều này. Quá trình vận chuyển hành lý,
trừ hành lý xách tay bắt đầu từ khi người vận chuyển, người
làm công, đại lý của người vận chuyển nhận hành lý tại cảng
nhận khách và chấm dứt khi trả hành lý cho hành khách tại cảng
trả khách.
Điều 132. Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển
hành khách và hành lý
1. Trách nhiệm của người vận chuyển trong trường hợp một hành
khách chết, bị thương hoặc tổn hại khác về sức khoẻ không vượt
quá 46.666 đơn vị tính toán cho một hợp đồng vận chuyển hành
khách và hành lý, với tổng mức đền bù không quá 25.000.000 đơn
vị tính toán; đối với những trường hợp mà Toà án quyết định
việc thanh toán được thực hiện dưới hình thức định kỳ thì tổng
số tiền bồi thường đó cũng không quá giới hạn quy định tại khoản
này.
2. Trách nhiệm của người vận chuyển đối với mất mát, hư hỏng
hành lý xách tay không quá 833 đơn vị tính toán cho một hành
khách trong một hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý.
3. Trách nhiệm của người vận chuyển đối với mất mát, hư hỏng
phương tiện vận tải bao gồm tất cả hành lý chở trên phương tiện
đó không quá 3.333 đơn vị tính toán cho một phương tiện trong
một hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý.
4. Trách nhiệm của người vận chuyển đối với mất mát, hư hỏng
hành lý không phải là hành lý quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều này không quá 1.200 đơn vị tính toán cho một hành khách
trong một hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý.
5. Người vận chuyển và hành khách có thể thoả thuận giảm trách
nhiệm của người vận chuyển một khoản khấu trừ không quá 117
đơn vị tính toán trong trường hợp hư hỏng một phương tiện vận
tải và không quá 13 đơn vị tính toán cho một hành khách trong
trường hợp mất mát, hư hỏng đối với hành lý khác.
Điều 133. Mất quyền giới hạn trách nhiệm
1. Người vận chuyển mất quyền giới hạn trách nhiệm quy định
tại Điều 132 của Bộ luật này, nếu tổn thất xảy ra được chứng
minh là hậu quả của việc người vận chuyển đã có hành vi cố ý
gây ra tổn thất đó hoặc cẩu thả và biết rằng tổn thất có thể
xảy ra.
2. Các quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng tương tự với
người làm công, đại lý của người vận chuyển.
Điều 134. Mất mát, hư hỏng đồ vật quý, tài sản có giá
trị khác
Người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường đồ vật quý, tiền,
giấy tờ có giá, tác phẩm nghệ thuật và tài sản có giá trị khác
bị mất mát, hư hỏng, nếu hành khách đã khai báo về tính chất
và giá trị của các tài sản đó cho thuyền trưởng hoặc sĩ quan
có trách nhiệm về hành lý biết khi gửi để bảo quản.
Điều 135. Lưu giữ hành lý
1. Người vận chuyển có quyền lưu giữ hành lý của hành khách,
nếu hành khách chưa thanh toán đủ các khoản nợ để bảo đảm quyền
lợi hợp pháp của mình cho đến khi hành khách đã trả nợ hoặc
đã đưa ra sự bảo đảm thoả đáng.
2. Hành lý không có người nhận, người vận chuyển có quyền đưa
lên bờ, gửi vào một nơi an toàn, thích hợp và thông báo cho
hành khách hoặc người đã được hành khách uỷ quyền biết. Mọi
chi phí và phí tổn phát sinh do hành khách thanh toán.
Điều 136. Thông báo mất mát, hư hỏng hành lý
1. Hành khách phải thông báo bằng văn bản cho người vận chuyển
hoặc đại lý của người vận chuyển về mất mát, hư hỏng hành lý
trong các trường hợp sau đây:
a) Hư hỏng rõ ràng đối với hành lý xách tay phải được báo trước
hoặc khi hành khách rời tàu;
b) Hư hỏng rõ ràng đối với các hành lý khác không phải là hành
lý xách tay phải được báo trước hoặc vào thời điểm trả hành
lý;
c) Mất mát, hư hỏng đối với hành lý mà không thể phát hiện từ
bên ngoài phải được báo trong thời hạn không quá mười lăm ngày,
kể từ ngày hành khách rời tàu hoặc hành lý lẽ ra được trả.
2. Trường hợp hành khách không thực hiện các quy định tại khoản
1 Điều này thì hành lý được coi là đã giao nhận nguyên vẹn,
trừ trường hợp có sự chứng minh ngược lại.
3. Hành khách không phải thông báo bằng văn bản nếu hành lý
khi nhận đã có sự kiểm tra hoặc giám định chung của người vận
chuyển và hành khách.
Điều 137. Thời hiệu khởi kiện về vận chuyển hành khách
và hành lý
1. Thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường tổn thất do hành khách
chết, bị thương hoặc tổn hại khác về sức khoẻ và mất mát, hư
hỏng hành lý là hai năm.
2. Thời hiệu khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều này được tính
như sau:
a) Trường hợp hành khách bị thương thì tính từ ngày hành khách
rời tàu;
b) Trường hợp hành khách chết trong thời gian vận chuyển thì
tính từ ngày lẽ ra hành khách rời tàu.
Trường hợp hành khách bị thương trong quá trình vận chuyển dẫn
đến hậu quả hành khách đó chết sau khi rời tàu thì tính từ ngày
người đó chết, nhưng không được quá ba năm, kể từ ngày rời tàu;
c) Trường hợp mất mát, hư hỏng hành lý thì tính từ ngày hành
khách rời tàu hoặc ngày lẽ ra hành khách rời tàu, tuỳ thuộc
vào thời điểm nào muộn hơn.
3. Mặc dù có việc tạm đình chỉ hoặc gián đoạn thời hiệu khởi
kiện đòi bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này thì thời hiệu
khởi kiện cũng không được quá ba năm, kể từ ngày hành khách
rời tàu hoặc ngày lẽ ra hành khách rời tàu, tuỳ thuộc vào thời
điểm nào muộn hơn.
CHƯƠNG VII
HỢP ĐỒNG THUÊ TÀU
MỤC 1: QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 138. Hợp đồng thuê tàu
Hợp đồng thuê tàu là hợp đồng được giao kết giữa chủ tàu và
người thuê tàu, theo đó chủ tàu giao quyền sử dụng tàu biển
của mình cho người thuê tàu trong một thời hạn nhất định với
mục đích cụ thể được thoả thuận trong hợp đồng và nhận tiền
thuê tàu do người thuê tàu trả.
Điều 139. Hình thức hợp đồng thuê tàu
1. Hợp đồng thuê tàu được giao kết theo hình thức hợp đồng thuê
tàu định hạn hoặc hợp đồng thuê tàu trần.
2. Hợp đồng thuê tàu phải được giao kết bằng văn bản.
Điều 140. Cho thuê lại tàu
1. Trường hợp có thoả thuận trong hợp đồng thì người thuê tàu
có thể cho người thứ ba thuê lại tàu, nhưng vẫn có nghĩa vụ
thực hiện hợp đồng đã giao kết với chủ tàu.
2. Các quyền và nghĩa vụ của chủ tàu quy định tại Chương này
cũng được áp dụng đối với người cho thuê lại tàu.
Điều 141. Nguyên tắc áp dụng quy định pháp luật trong
hợp đồng thuê tàu
Các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của chủ tàu và
người thuê tàu quy định tại Chương này chỉ áp dụng khi chủ tàu
và người thuê tàu không có thoả thuận khác.
Điều 142. Thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng
thuê tàu
Thời hiệu khởi kiện đối với vụ việc liên quan đến hợp đồng thuê
tàu là hai năm, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng.
MỤC 2
THUÊ TÀU ĐỊNH HẠN
Điều 143. Hợp đồng thuê tàu định hạn
1. Hợp đồng thuê tàu định hạn là hợp đồng thuê tàu, theo đó
chủ tàu cung cấp một tàu cụ thể cùng với thuyền bộ cho người
thuê tàu.
2. Hợp đồng thuê tàu định hạn có các nội dung sau đây:
a) Tên chủ tàu, tên người thuê tàu;
b) Tên, quốc tịch, cấp tàu; trọng tải, công suất máy, dung tích,
tốc độ và mức tiêu thụ nhiên liệu của tàu;
c) Vùng hoạt động của tàu, mục đích sử dụng, thời hạn hợp đồng;
d) Thời gian, địa điểm và điều kiện của việc giao và trả tàu;
đ) Tiền thuê tàu, phương thức thanh toán;
e) Các nội dung liên quan khác.
Điều 144. Nghĩa vụ của chủ tàu trong thuê tàu định
hạn
1. Chủ tàu có nghĩa vụ giao tàu biển cho người thuê tàu đúng
địa điểm, thời điểm với trạng thái an toàn kỹ thuật cần thiết,
có đủ dự trữ phù hợp với mục đích sử dụng đã thoả thuận trong
hợp đồng và duy trì như vậy trong suốt thời gian thuê tàu.
2. Chủ tàu có nghĩa vụ cung cấp thuyền bộ có năng lực phù hợp
với mục đích sử dụng tàu đã thoả thuận trong hợp đồng, trả lương
và bảo đảm các quyền lợi hợp pháp khác cho thuyền viên trong
thời gian thuê tàu.
Điều 145. Quyền của người thuê tàu định hạn
1. Người thuê tàu có toàn quyền sử dụng các khu vực chuyên dùng
ở trên tàu để vận chuyển hàng hoá, hành khách, hành lý.
2. Người thuê tàu không có quyền sử dụng các khu vực khác ở
trên tàu để vận chuyển hàng hoá, hành khách, hành lý, trừ trường
hợp được chủ tàu đồng ý.
Điều 146. Nghĩa vụ của người thuê tàu định hạn
1. Người thuê tàu có nghĩa vụ sử dụng tàu đúng mục đích đã thoả
thuận trong hợp đồng và phải quan tâm thích đáng các quyền lợi
của chủ tàu.
2. Người thuê tàu có nghĩa vụ bảo đảm tàu chỉ được sử dụng để
vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý hợp pháp.
3. Sau khi hết hạn cho thuê tàu, người thuê tàu có nghĩa vụ
trả tàu cho chủ tàu đúng địa điểm, thời điểm và trạng thái kỹ
thuật đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ những hao mòn tự nhiên
của tàu.
Điều 147. Quan hệ giữa chủ tàu, người thuê tàu và thuyền
bộ của tàu trong thuê tàu định hạn
1. Trong thời gian tàu cho thuê định hạn, thuyền trưởng và các
thuyền viên khác trong thuyền bộ của tàu vẫn thuộc quyền quản
lý về lao động của chủ tàu. Chủ tàu hoàn toàn chịu trách nhiệm
về các vấn đề liên quan đến thuyền bộ.
2. Trong hoạt động khai thác tàu, thuyền trưởng là người đại
diện của người thuê tàu và phải thực hiện các chỉ thị của người
thuê tàu phù hợp với hợp đồng thuê tàu định hạn.
3. Chủ tàu chịu trách nhiệm liên đới với người thuê tàu về việc
thuyền trưởng thực hiện quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều
này, trừ trường hợp thuyền trưởng đã ghi rõ trong cam kết của
mình là thực hiện quyền hạn đó nhân danh người thuê tàu.
Điều 148. Chia tiền công cứu hộ trong thuê tàu định
hạn
Trường hợp tàu cho thuê định hạn tham gia cứu hộ trong thời
gian cho thuê thì tiền công cứu hộ được chia đều giữa chủ tàu
và người thuê tàu sau khi đã trừ các chi phí liên quan đến hoạt
động cứu hộ và tiền thưởng công cứu hộ cho thuyền bộ.
Điều 149. Quá thời hạn thuê tàu định hạn
Trên cơ sở của việc tính toán hợp lý, nếu tàu hoàn thành chuyến
đi cuối cùng vượt quá thời gian trả tàu được xác định trong
hợp đồng thuê tàu thì người thuê tàu có quyền tiếp tục sử dụng
tàu để hoàn thành chuyến đi đó; người thuê tàu phải trả tiền
thuê cho thời gian vượt quá đó theo mức giá được xác định trong
hợp đồng thuê tàu; nếu giá thuê tàu trên thị trường cao hơn
so với giá được xác định trong hợp đồng thuê tàu thì người thuê
tàu phải trả tiền thuê theo giá thị trường tại thời điểm đó.
Điều 150. Thanh toán tiền thuê tàu định hạn
1. Người thuê tàu có trách nhiệm trả tiền thuê tàu từ ngày nhận
tàu đến ngày trả tàu cho chủ tàu.
2. Người thuê tàu không phải trả tiền thuê tàu cho thời gian
tàu không đủ khả năng khai thác do hư hỏng, thiếu phụ tùng dự
trữ hoặc do thuyền bộ không đủ năng lực cần thiết. Trường hợp
này, người thuê tàu được miễn trách nhiệm đối với các chi phí
để duy trì tàu.
3. Trường hợp tàu không đủ khả năng khai thác do lỗi của người
thuê tàu thì chủ tàu vẫn được hưởng tiền thuê tàu và được bồi
thường các thiệt hại liên quan.
4. Trường hợp tàu thuê mất tích thì tiền thuê tàu được tính
đến ngày thực tế nhận được tin tức cuối cùng về tàu đó.
5. Trường hợp người thuê tàu không trả tiền thuê tàu theo thoả
thuận trong hợp đồng thuê tàu thì chủ tàu có quyền giữ hàng
hoá, tài sản trên tàu, nếu hàng hoá, tài sản đó thuộc sở hữu
của người thuê tàu.
Điều 151. Chấm dứt hợp đồng thuê tàu định hạn
1. Người thuê tàu có quyền chấm dứt hợp đồng và được đòi bồi
thường thiệt hại liên quan, nếu chủ tàu có lỗi trong khi thực
hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 144 của Bộ luật này.
2. Cả hai bên có quyền chấm dứt hợp đồng mà không phải bồi thường,
nếu xảy ra chiến tranh, bạo loạn hoặc do thực hiện các biện
pháp cưỡng chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm cản trở
việc thực hiện hợp đồng mà các sự kiện đó không thể chấm dứt
sau một thời gian chờ đợi hợp lý.
3. Hợp đồng thuê tàu đương nhiên chấm dứt, nếu tàu mất tích,
chìm đắm, phá huỷ, bị coi là hư hỏng không sửa chữa được hoặc
việc sửa chữa là không có hiệu quả kinh tế.
MỤC 3
THUÊ TÀU TRẦN
Điều 152. Hợp đồng thuê tàu trần
1. Hợp đồng thuê tàu trần là hợp đồng thuê tàu, theo đó chủ
tàu cung cấp cho người thuê tàu một tàu cụ thể không bao gồm
thuyền bộ.
2. Hợp đồng thuê tàu trần có các nội dung sau đây:
a) Tên chủ tàu, tên người thuê tàu;
b) Tên, quốc tịch, cấp tàu; trọng tải và công suất máy của tàu;
c) Vùng hoạt động của tàu, mục đích sử dụng tàu và thời gian
thuê tàu;
d) Thời gian, địa điểm và điều kiện của việc giao và trả tàu;
đ) Kiểm tra, bảo dưỡng và sửa chữa tàu;
e) Tiền thuê tàu, phương thức thanh toán;
g) Bảo hiểm tàu;
h) Thời gian, điều kiện chấm dứt hợp đồng thuê tàu;
i) Các nội dung liên quan khác.
Điều 153. Nghĩa vụ của chủ tàu trong thuê tàu trần
1. Chủ tàu phải mẫn cán trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình
để giao tàu đủ khả năng đi biển và các giấy tờ của tàu cho người
thuê tàu trần tại địa điểm và thời gian được thoả thuận trong
hợp đồng thuê tàu.
2. Trong thời gian cho thuê tàu trần, chủ tàu không được thế
chấp tàu nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của người thuê
tàu; trường hợp chủ tàu làm trái với quy định này thì phải bồi
thường thiệt hại gây ra cho người thuê tàu.
3. Trường hợp tàu bị bắt giữ vì các tranh chấp liên quan đến
quyền sở hữu hoặc các khoản nợ của chủ tàu, chủ tàu phải bảo
đảm lợi ích của người thuê tàu không bị ảnh hưởng và phải bồi
thường thiệt hại gây ra cho người thuê tàu.
Điều 154. Nghĩa vụ của người thuê tàu trần
1. Người thuê tàu có nghĩa vụ bảo dưỡng tàu và các trang thiết
bị của tàu trong thời gian thuê tàu trần.
2. Người thuê tàu có nghĩa vụ sửa chữa các hư hỏng của tàu trong
thời gian thuê tàu và phải thông báo cho chủ tàu biết. Chủ tàu
chịu trách nhiệm trả tiền sửa chữa, nếu các tổn thất phát sinh
ngoài phạm vi trách nhiệm của người thuê tàu.
3. Trong thời gian thuê tàu trần, người thuê tàu phải chịu chi
phí bảo hiểm cho tàu với giá trị và cách thức đã được thoả thuận
trong hợp đồng thuê tàu.
4. Trong thời gian thuê tàu trần, nếu việc sử dụng, khai thác
tàu của người thuê tàu gây ra thiệt hại cho chủ tàu thì người
thuê tàu có nghĩa vụ khắc phục hoặc bồi thường thiệt hại đó.
Điều 155. Nghĩa vụ trả tàu, quá thời hạn thuê tàu và
chấm dứt hợp đồng thuê tàu trần
Nghĩa vụ trả tàu, quá thời hạn thuê tàu và chấm dứt hợp đồng
thuê tàu trần được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều
146, Điều 149 và Điều 151 của Bộ luật này.
Điều 156. Thanh toán tiền thuê tàu trần
Người thuê tàu trần phải trả tiền thuê tàu theo thoả thuận trong
hợp đồng thuê tàu. Trường hợp tàu bị tổn thất toàn bộ hoặc mất
tích, việc thanh toán tiền thuê tàu chấm dứt từ ngày tàu bị
tổn thất toàn bộ hoặc từ ngày nhận được thông tin cuối cùng
về tàu. Tiền thuê tàu trả trước phải được trả lại tương ứng
với thời gian chưa sử dụng tàu.
Điều 157. Thuê mua tàu
Khi hợp đồng thuê tàu trần có điều khoản về thuê mua tàu, quyền
sở hữu tàu theo hợp đồng thuê tàu trần được chuyển cho người
thuê tàu theo thoả thuận trong hợp đồng.
CHƯƠNG VIII
ĐẠI LÝ TÀU BIỂN VÀ MÔI GIỚI HÀNG HẢI
MỤC 1
ĐẠI LÝ TÀU BIỂN
Điều 158. Đại lý tàu biển
Đại lý tàu biển là dịch vụ mà người đại lý tàu biển nhân danh
chủ tàu hoặc người khai thác tàu tiến hành các dịch vụ liên
quan đến tàu biển hoạt động tại cảng, bao gồm việc thực hiện
các thủ tục tàu biển vào, rời cảng; ký kết hợp đồng vận chuyển,
hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng bốc dỡ hàng hoá, hợp đồng
thuê tàu, hợp đồng thuê thuyền viên; ký phát vận đơn hoặc chứng
từ vận chuyển tương đương; cung ứng vật tư, nhiên liệu, thực
phẩm cho tàu biển; trình kháng nghị hàng hải; thông tin liên
lạc với chủ tàu hoặc người khai thác tàu; dịch vụ liên quan
đến thuyền viên; thu, chi các khoản tiền liên quan đến hoạt
động khai thác tàu; giải quyết tranh chấp về hợp đồng vận chuyển
hoặc về tai nạn hàng hải và dịch vụ khác liên quan đến tàu biển.
Điều 159. Người đại lý tàu biển
1. Người đại lý tàu biển là người được người uỷ thác chỉ định
làm đại diện để tiến hành dịch vụ đại lý tàu biển theo uỷ thác
của người uỷ thác tại cảng biển.
2. Người đại lý tàu biển có thể thực hiện dịch vụ đại lý tàu
biển cho người thuê vận chuyển, người thuê tàu hoặc những người
khác có quan hệ hợp đồng với chủ tàu hoặc người khai thác tàu,
nếu được chủ tàu hoặc người khai thác tàu đồng ý.
Điều 160. Hợp đồng đại lý tàu biển
Hợp đồng đại lý tàu biển là hợp đồng được giao kết bằng văn
bản giữa người uỷ thác và người đại lý tàu biển, theo đó người
uỷ thác uỷ thác cho người đại lý tàu biển thực hiện các dịch
vụ đại lý tàu biển đối với từng chuyến tàu hoặc trong một thời
hạn cụ thể.
Điều 161. Trách nhiệm của người đại lý tàu biển
1. Người đại lý tàu biển có trách nhiệm tiến hành các hoạt động
cần thiết để chăm sóc và bảo vệ chu đáo quyền và lợi ích hợp
pháp của người uỷ thác; phải chấp hành các yêu cầu và chỉ dẫn
của người uỷ thác; nhanh chóng thông báo cho người uỷ thác về
các sự kiện liên quan đến công việc được uỷ thác; tính toán
chính xác các khoản thu, chi liên quan đến công việc được uỷ
thác.
2. Người đại lý tàu biển có trách nhiệm bồi thường cho người
uỷ thác thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Điều 162. Trách nhiệm của người uỷ thác
1. Người uỷ thác có trách nhiệm hướng dẫn người đại lý tàu biển
thực hiện dịch vụ đã uỷ thác khi cần thiết và phải ứng trước
theo yêu cầu của người đại lý tàu biển khoản tiền dự chi cho
dịch vụ được uỷ thác.
2. Trường hợp người đại lý tàu biển có hành động vượt quá phạm
vi uỷ thác thì người uỷ thác vẫn phải chịu trách nhiệm về hành
động đó, nếu ngay sau khi nhận được thông tin này mà người uỷ
thác đã không thông báo cho những người liên quan biết là mình
không công nhận hành động này của người đại lý tàu biển.
Điều 163. Giá dịch vụ đại lý tàu biển
Giá dịch vụ đại lý tàu biển do các bên thoả thuận, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
Điều 164. Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp
đồng đại lý tàu biển
Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng đại lý tàu biển
là hai năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp.
Điều 165. Đại lý tàu biển đối với tàu công vụ, tàu
cá, thuỷ phi cơ và tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam
Các quy định của Mục này được áp dụng đối với tàu công vụ, tàu
cá, thuỷ phi cơ và tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam.
MỤC 2
MÔI GIỚI HÀNG HẢI
Điều 166. Môi giới hàng hải và người môi giới hàng
hải
1. Môi giới hàng hải là dịch vụ làm trung gian cho các bên liên
quan trong việc giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng vận chuyển,
hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng thuê tàu, hợp đồng mua
bán tàu biển, hợp đồng lai dắt tàu biển, hợp đồng thuê thuyền
viên và các hợp đồng khác liên quan đến hoạt động hàng hải theo
hợp đồng môi giới hàng hải.
2. Người môi giới hàng hải là người thực hiện dịch vụ môi giới
hàng hải.
Điều 167. Quyền và nghĩa vụ của người môi giới hàng
hải
1. Có quyền phục vụ các bên tham gia hợp đồng với điều kiện
phải thông báo cho tất cả các bên biết việc đó và có nghĩa vụ
quan tâm thích đáng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
liên quan.
2. Được hưởng hoa hồng môi giới khi hợp đồng được ký kết do
hoạt động trung gian của mình. Người môi giới và người được
môi giới thoả thuận về hoa hồng môi giới; nếu không có thoả
thuận trước thì hoa hồng môi giới được xác định trên cơ sở tập
quán địa phương.
3. Có nghĩa vụ thực hiện công việc môi giới một cách trung thực.
4. Chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi
giới trong thời gian môi giới.
5. Trách nhiệm của người môi giới hàng hải chấm dứt khi hợp
đồng giữa các bên được giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận
khác.
Điều 168. Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp
đồng môi giới hàng hải
Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng môi giới hàng
hải là hai năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp.
CHƯƠNG IX
HOA TIÊU HÀNG HẢI
Điều 169. Chế độ hoa tiêu hàng hải tại Việt Nam
1. Việc sử dụng hoa tiêu hàng hải tại Việt Nam nhằm bảo đảm
an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi
trường; góp phần bảo vệ chủ quyền, thực hiện quyền chủ quyền
và quyền tài phán của quốc gia.
2. Tàu biển Việt Nam và tàu biển nước ngoài khi hoạt động trong
vùng hoa tiêu hàng hải bắt buộc của Việt Nam phải sử dụng hoa
tiêu hàng hải Việt Nam dẫn tàu và trả phí hoa tiêu. Trong các
vùng hoa tiêu hàng hải không bắt buộc, nếu thấy cần thiết để
bảo đảm an toàn thì thuyền trưởng có thể yêu cầu hoa tiêu hàng
hải Việt Nam dẫn tàu.
Chính phủ quy định cụ thể các trường hợp được miễn sử dụng hoa
tiêu hàng hải Việt Nam dẫn tàu khi hoạt động trong vùng hoa
tiêu hàng hải bắt buộc của Việt Nam.
Điều 170. Tổ chức hoa tiêu hàng hải
1. Tổ chức hoa tiêu hàng hải là tổ chức cung cấp dịch vụ dẫn
tàu biển ra, vào cảng biển, hoạt động trong một vùng hoa tiêu
hàng hải bắt buộc của Việt Nam.
2. Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của hoa tiêu hàng
hải.
Điều 171. Địa vị pháp lý của hoa tiêu hàng hải
1. Hoa tiêu hàng hải là người cố vấn cho thuyền trưởng điều
khiển tàu phù hợp với điều kiện hàng hải ở khu vực dẫn tàu của
hoa tiêu hàng hải. Việc sử dụng hoa tiêu hàng hải không miễn
trách nhiệm chỉ huy tàu của thuyền trưởng.
2. Trong thời gian dẫn tàu, hoa tiêu hàng hải thuộc quyền chỉ
huy của thuyền trưởng tàu được dẫn.
3. Thuyền trưởng có quyền lựa chọn hoa tiêu hàng hải hoặc đình
chỉ hoạt động của hoa tiêu hàng hải và yêu cầu thay thế hoa
tiêu hàng hải khác.
Điều 172. Điều kiện hành nghề của hoa tiêu hàng hải
1. Là công dân Việt Nam.
2. Đủ tiêu chuẩn sức khoẻ.
3. Có chứng chỉ khả năng chuyên môn hoa tiêu hàng hải.
4. Chỉ được phép dẫn tàu trong vùng hoa tiêu hàng hải phù hợp
với giấy chứng nhận vùng hoa tiêu hàng hải được cấp.
5. Chịu sự quản lý của một tổ chức hoa tiêu hàng hải.
Điều 173. Quyền và nghĩa vụ của hoa tiêu hàng hải khi
dẫn tàu
1. Hoa tiêu hàng hải có quyền từ chối dẫn tàu, đồng thời phải
thông báo ngay cho Cảng vụ hàng hải và tổ chức hoa tiêu hàng
hải khi thuyền trưởng cố ý không thực hiện các chỉ dẫn hoặc
khuyến cáo hợp lý của mình với sự làm chứng của người thứ ba.
2. Hoa tiêu hàng hải có nghĩa vụ thường xuyên chỉ dẫn cho thuyền
trưởng biết về các điều kiện hàng hải ở khu vực dẫn tàu; khuyến
cáo thuyền trưởng về các hành động không phù hợp với quy định
bảo đảm an toàn hàng hải và các quy định khác có liên quan của
pháp luật.
3. Hoa tiêu hàng hải có nghĩa vụ thông báo cho Cảng vụ hàng
hải về tình hình dẫn tàu và những thay đổi có tính chất nguy
hiểm về hàng hải mà mình phát hiện được trong khi dẫn tàu.
4. Hoa tiêu hàng hải phải thực hiện mẫn cán nghĩa vụ của mình.
Việc dẫn tàu của hoa tiêu hàng hải kết thúc sau khi tàu đã thả
neo, cập cầu cảng, đến vị trí thoả thuận an toàn hoặc khi có
hoa tiêu hàng hải khác thay thế. Hoa tiêu hàng hải không được
phép rời tàu, nếu không có sự đồng ý của thuyền trưởng.
Điều 174. Nghĩa vụ của thuyền trưởng và chủ tàu khi
sử dụng hoa tiêu hàng hải
1. Thuyền trưởng có nghĩa vụ thông báo chính xác cho hoa tiêu
hàng hải tính năng và đặc điểm riêng của tàu; bảo đảm an toàn
cho hoa tiêu hàng hải khi lên và rời tàu; cung cấp cho hoa tiêu
hàng hải các tiện nghi làm việc, phục vụ sinh hoạt trong suốt
thời gian hoa tiêu hàng hải ở trên tàu.
2. Trường hợp xảy ra tổn thất do lỗi dẫn tàu của hoa tiêu hàng
hải thì chủ tàu phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất
đó như đối với tổn thất xảy ra do lỗi của thuyền viên.
3. Trường hợp vì lý do bảo đảm an toàn, hoa tiêu hàng hải không
thể rời tàu sau khi kết thúc nhiệm vụ thì thuyền trưởng phải
ghé vào cảng gần nhất để hoa tiêu hàng hải rời tàu. Chủ tàu
hoặc người khai thác tàu có trách nhiệm thu xếp đưa hoa tiêu
hàng hải trở về nơi đã tiếp nhận và thanh toán các chi phí liên
quan.
Điều 175. Trách nhiệm của hoa tiêu hàng hải khi xảy
ra tổn thất do lỗi dẫn tàu
Hoa tiêu hàng hải chỉ chịu trách nhiệm hành chính, hình sự theo
quy định của pháp luật mà không phải chịu trách nhiệm dân sự
trong trường hợp xảy ra tổn thất do lỗi dẫn tàu của hoa tiêu.
Điều 176. Quy định chi tiết về hoa tiêu hàng hải
1. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định vùng hoa tiêu hàng
hải bắt buộc; tiêu chuẩn đào tạo, cấp, thu hồi chứng chỉ khả
năng chuyên môn hoa tiêu hàng hải và giấy chứng nhận vùng hoạt
động hoa tiêu hàng hải.
2. Bộ Tài chính quy định biểu phí hoa tiêu hàng hải tại Việt
Nam sau khi thống nhất với Bộ Giao thông vận tải.
Điều 177. Hoa tiêu đối với tàu công vụ, tàu cá, phương
tiện thuỷ nội địa, thuỷ phi cơ và tàu quân sự nước ngoài
Các quy định của Chương này được áp dụng đối với tàu công vụ,
tàu cá, phương tiện thuỷ nội địa, thuỷ phi cơ và tàu quân sự
nước ngoài đến Việt Nam.
CHƯƠNG X
LAI DẮT TÀU BIỂN
Điều 178. Lai dắt tàu biển
1. Lai dắt tàu biển là việc lai, kéo, đẩy hoặc túc trực bên
cạnh tàu biển, các phương tiện nổi khác trên biển và trong vùng
nước cảng biển bằng tàu lai.
2. Lai dắt tàu biển bao gồm lai dắt trên biển và lai dắt hỗ
trợ trong vùng nước cảng biển.
Điều 179. Hợp đồng lai dắt tàu biển
1. Hợp đồng lai dắt tàu biển là hợp đồng được giao kết bằng
văn bản giữa chủ tàu lai và bên thuê lai dắt, trừ trường hợp
lai dắt hỗ trợ trong vùng nước cảng biển.
2. Giá dịch vụ lai dắt tàu biển do các bên thoả thuận, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
Điều 180. Quyền chỉ huy lai dắt tàu biển
1. Tàu lai và tàu biển hoặc các phương tiện được lai dắt khác
hợp thành đoàn tàu lai dắt. Đoàn tàu lai dắt được hình thành
kể từ khi tàu lai và các thành viên khác của đoàn tàu lai dắt
đã sẵn sàng thực hiện các tác nghiệp cần thiết theo lệnh của
người chỉ huy đoàn tàu lai dắt và được giải tán khi tác nghiệp
cuối cùng được thực hiện xong, các thành viên của đoàn tàu lai
dắt đã rời xa nhau một khoảng cách an toàn.
2. Các bên tham gia hợp đồng lai dắt tàu biển thoả thuận về
người có quyền chỉ huy đoàn tàu lai dắt; nếu không có thoả thuận
thì xác định theo tập quán địa phương.
3. Quyền chỉ huy lai dắt hỗ trợ trong vùng nước cảng biển thuộc
thuyền trưởng tàu được lai.
Điều 181. Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng lai dắt
tàu biển
1. Chủ tàu lai có nghĩa vụ cung cấp tàu lai đúng địa điểm, thời
điểm với điều kiện kỹ thuật thoả thuận trong hợp đồng lai dắt
tàu biển.
2. Bên thuê lai dắt có nghĩa vụ chuẩn bị đầy đủ các điều kiện
bảo đảm an toàn đối với tàu theo thoả thuận trong hợp đồng lai
dắt tàu biển.
Điều 182. Trách nhiệm bồi thường tổn thất trong lai
dắt tàu biển
1. Chủ tàu của tàu có thuyền trưởng giữ quyền chỉ huy đoàn tàu
lai dắt phải chịu trách nhiệm về các tổn thất đối với tàu, người
và tài sản trên tàu của các thành viên khác trong đoàn tàu lai
dắt, nếu không chứng minh được rằng các tổn thất đó xảy ra ngoài
phạm vi trách nhiệm của mình.
2. Các tàu dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng tàu khác không
được miễn, giảm trách nhiệm quan tâm đến sự an toàn chung của
đoàn tàu lai dắt; chủ tàu chịu trách nhiệm về các tổn thất đối
với tàu, người và tài sản trên tàu của các thành viên khác,
nếu tàu của mình có lỗi gây ra tổn thất.
3. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lai dắt tàu biển, nếu
gây thiệt hại cho bên thứ ba thì các bên của hợp đồng phải chịu
trách nhiệm bồi thường theo mức độ lỗi của mỗi bên.
Điều 183. Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp
đồng lai dắt tàu biển
Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng lai dắt tàu biển
là hai năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp.
Điều 184. Lai dắt tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá,
phương tiện thuỷ nội địa và thuỷ phi cơ
Các quy định của Chương này được áp dụng đối với tàu quân sự,
tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thuỷ nội địa và thuỷ phi cơ.
CHƯƠNG XI
CỨU HỘ HÀNG HẢI
Điều 185. Cứu hộ hàng hải
1. Cứu hộ hàng hải là hành động cứu tàu biển hoặc các tài sản
trên tàu biển thoát khỏi nguy hiểm hoặc hành động cứu trợ tàu
biển đang bị nguy hiểm trên biển, trong vùng nước cảng biển,
được thực hiện trên cơ sở hợp đồng cứu hộ hàng hải.
2. Hợp đồng cứu hộ hàng hải là hợp đồng được giao kết giữa người
cứu hộ và người được cứu hộ về việc thực hiện cứu hộ. Thuyền
trưởng của tàu biển bị nạn được thay mặt chủ tàu giao kết hợp
đồng cứu hộ. Thuyền trưởng hoặc chủ tàu của tàu biển bị nạn
được thay mặt chủ tài sản chở trên tàu giao kết hợp đồng cứu
hộ tài sản đó.
3. Hợp đồng cứu hộ hàng hải được giao kết bằng hình thức do
các bên thoả thuận.
4. Các bên tham gia hợp đồng cứu hộ hàng hải có quyền yêu cầu
huỷ bỏ hoặc thay đổi những thoả thuận không hợp lý trong hợp
đồng, nếu các thoả thuận này được giao kết trong tình trạng
nguy cấp và bị tác động bởi tình trạng đó hoặc chứng minh được
là bị lừa dối, lợi dụng khi giao kết hoặc khi tiền công cứu
hộ quá thấp hoặc quá cao so với thực tế được cung cấp.
Điều 186. Nghĩa vụ của người cứu hộ, chủ tàu và thuyền
trưởng
1. Trong quá trình cứu hộ, người cứu hộ có nghĩa vụ sau đây:
a) Tiến hành việc cứu hộ một cách mẫn cán;
b) Áp dụng các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa hoặc giảm thiệt
hại cho môi trường;
c) Phải yêu cầu sự hỗ trợ của những người cứu hộ khác trong
trường hợp cần thiết;
d) Chấp nhận hành động cứu hộ của những người cứu hộ khác khi
có yêu cầu hợp lý của chủ tàu, thuyền trưởng của tàu biển hoặc
chủ của tài sản đang gặp nguy hiểm. Trong trường hợp này, số
tiền công của người cứu hộ đó không bị ảnh hưởng, nếu việc cứu
hộ của những người cứu hộ khác là bất hợp lý.
2. Chủ tàu, thuyền trưởng của tàu biển hoặc chủ của tài sản
đang gặp nguy hiểm có nghĩa vụ sau đây:
a) Hợp tác với người cứu hộ trong suốt quá trình thực hiện cứu
hộ;
b) Phải hành động mẫn cán để ngăn ngừa hoặc giảm thiệt hại cho
môi trường khi đang được cứu hộ;
c) Khi tàu biển hoặc các tài sản khác được đưa đến địa điểm
an toàn, phải giao lại tàu biển hoặc tài sản cho người cứu hộ,
nếu người cứu hộ yêu cầu hợp lý.
Điều 187. Quyền hưởng tiền công cứu hộ
1. Mọi hành động cứu hộ hàng hải mang lại kết quả có ích đều
được hưởng tiền công cứu hộ hợp lý.
2. Tiền công cứu hộ bao gồm tiền trả công cứu hộ, chi phí cứu
hộ, chi phí vận chuyển, bảo quản tàu biển hoặc tài sản được
cứu hộ và tiền thưởng công cứu hộ.
3. Tiền công cứu hộ được trả cả trong trường hợp người cứu hộ
có hành động trực tiếp hoặc gián tiếp giúp người được cứu hộ
bảo vệ các quyền lợi liên quan đến tiền cước, tiền công vận
chuyển hành khách; cứu hộ tàu biển thuộc cùng một chủ tàu.
4. Hành động cứu hộ trái với sự chỉ định rõ ràng và hợp lý của
thuyền trưởng tàu biển được cứu thì không được trả tiền công
cứu hộ.
Điều 188. Nguyên tắc xác định tiền công cứu hộ
1. Tiền công cứu hộ được thoả thuận trong hợp đồng, nhưng phải
hợp lý và không được vượt quá giá trị của tàu biển hoặc tài
sản được cứu hộ.
2. Trong trường hợp tiền công cứu hộ không được thoả thuận trong
hợp đồng hoặc không hợp lý thì tiền công cứu hộ được xác định
trên cơ sở sau đây:
a) Giá trị của tàu biển và tài sản cứu được;
b) Kỹ năng và nỗ lực của người cứu hộ trong việc ngăn ngừa hoặc
giảm thiểu thiệt hại ô nhiễm môi trường;
c) Hiệu quả cứu hộ của người cứu hộ;
d) Tính chất và mức độ nguy hiểm của tai nạn;
đ) Kỹ năng và nỗ lực của người cứu hộ trong việc cứu hộ tàu
biển, người và tài sản trên tàu biển;
e) Thời gian, chi phí và các tổn thất liên quan của người cứu
hộ;
g) Rủi ro về trách nhiệm và rủi ro khác đối với người cứu hộ
hoặc thiết bị cứu hộ;
h) Tính kịp thời của hoạt động cứu hộ do người cứu hộ thực hiện;
i) Tính sẵn sàng, năng lực của tàu và các thiết bị khác sử dụng
trong việc cứu hộ;
k) Tính sẵn sàng, hiệu quả và giá trị của các thiết bị cứu hộ.
3. Tiền công cứu hộ có thể bị giảm hoặc không được công nhận,
nếu người cứu hộ đã tự gây ra tình trạng phải cứu hộ hoặc có
hành động trộm cắp, lừa đảo, gian lận khi thực hiện hợp đồng
cứu hộ.
Điều 189. Tiền công đặc biệt trong cứu hộ hàng hải
1. Trường hợp người cứu hộ đã thực hiện hoạt động cứu hộ liên
quan đến tàu biển hoặc hàng hoá trên tàu biển đe dọa gây thiệt
hại cho môi trường mà không được hưởng số tiền công xác định
theo khoản 1 và khoản 2 Điều 188 của Bộ luật này thì người cứu
hộ có quyền được hưởng một khoản tiền công đặc biệt từ chủ tàu.
2. Khoản tiền công đặc biệt quy định tại khoản 1 Điều này mà
chủ tàu trả cho người cứu hộ không quá 30% chi phí phát sinh
của người cứu hộ. Trường hợp có khiếu kiện, nếu thấy hợp lý
và căn cứ vào các quy định tại khoản 2 Điều 188 của Bộ luật
này thì Toà án hoặc Trọng tài có thể quyết định tăng thêm mức
tiền công đặc biệt, nhưng không quá 100% chi phí phát sinh của
người cứu hộ.
3. Chi phí phát sinh của người cứu hộ quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này là các chi phí hợp lý mà người cứu hộ trực
tiếp chi trả và các chi phí hợp lý khác phát sinh từ thực tế
sử dụng thiết bị, nhân viên cứu hộ trong hoạt động cứu hộ. Khi
xác định chi phí phát sinh của người cứu hộ phải căn cứ quy
định tại các điểm h, i và k khoản 2 Điều 188 của Bộ luật này.
4. Trong mọi trường hợp, toàn bộ khoản tiền công đặc biệt quy
định tại Điều này chỉ được trả khi khoản tiền đó lớn hơn khoản
tiền công cứu hộ mà người cứu hộ có thể được hưởng theo quy
định tại Điều 188 của Bộ luật này và là phần chênh lệch giữa
khoản tiền công đặc biệt và tiền công cứu hộ.
5. Trường hợp do cẩu thả của người cứu hộ mà không ngăn ngừa
hoặc giảm thiểu được thiệt hại ô nhiễm môi trường thì người
cứu hộ có thể bị mất một phần hoặc toàn bộ quyền hưởng khoản
tiền công đặc biệt đó.
6. Các quy định tại Điều này không ảnh hưởng đến quyền truy
đòi của chủ tàu đối với các bên được cứu hộ.
Điều 190. Nguyên tắc xác định giá trị của tàu biển
hoặc tài sản cứu được
Giá trị của tàu biển hoặc tài sản cứu được là giá trị thực tế
tại nơi để tàu biển, tài sản sau khi được cứu hộ hoặc tiền bán,
định giá tài sản, sau khi đã trừ chi phí gửi, bảo quản, tổ chức
bán đấu giá và các chi phí liên quan khác.
Điều 191. Tiền thưởng cứu người trong tiền công cứu
hộ
1. Người được cứu tính mạng không có nghĩa vụ trả bất cứ khoản
tiền nào cho người đã cứu mình.
2. Người cứu tính mạng được hưởng một khoản tiền thưởng hợp
lý trong tiền công cứu hộ hoặc tiền công đặc biệt, nếu hành
động đó liên quan đến cùng một tai nạn làm phát sinh hành động
cứu hộ tài sản.
Điều 192. Tiền thưởng công cứu hộ trong các trường
hợp khác
Người đang thực hiện nhiệm vụ hoa tiêu hàng hải hoặc lai dắt
tàu biển được hưởng tiền thưởng công cứu hộ, nếu có sự giúp
đỡ đặc biệt ngoài phạm vi trách nhiệm theo hợp đồng để cứu hộ
tàu biển mà mình đang phục vụ.
Điều 193. Phân chia tiền công cứu hộ hàng hải
1. Tiền công cứu hộ được chia đều giữa chủ tàu và thuyền bộ
của tàu cứu hộ, sau khi trừ chi phí, tổn thất của tàu và chi
phí, tổn thất của chủ tàu hoặc của thuyền bộ liên quan đến hành
động cứu hộ.
Nguyên tắc này không áp dụng đối với tàu cứu hộ chuyên dùng.
2. Trong trường hợp có nhiều tàu cùng tham gia cứu hộ thì việc
phân chia tiền công cứu hộ thực hiện theo quy định tại khoản
2 Điều 188 của Bộ luật này.
3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cách thức phân chia
tiền công cứu hộ của thuyền bộ tàu biển Việt Nam.
Điều 194. Quyền giữ tàu biển hoặc tài sản cứu được
1. Tàu biển hoặc tài sản cứu được có thể bị giữ để bảo đảm việc
thanh toán tiền công cứu hộ và các chi phí khác liên quan đến
việc định giá, tổ chức bán đấu giá.
2. Người cứu hộ không được thực hiện quyền giữ tàu biển hoặc
tài sản cứu được, khi đã được chủ tàu hoặc chủ tài sản đó bảo
đảm thoả đáng đối với khiếu kiện đòi thanh toán tiền công cứu
hộ, bao gồm cả lợi nhuận và các chi phí liên quan.
Điều 195. Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp
đồng cứu hộ hàng hải
Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng cứu hộ hàng hải
là hai năm, kể từ ngày kết thúc hành động cứu hộ.
Điều 196. Cứu hộ hàng hải đối với tàu quân sự, tàu
công vụ, tàu cá, phương tiện thuỷ nội địa và thuỷ phi cơ
Các quy định của Chương này được áp dụng đối với tàu quân sự,
tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thuỷ nội địa và thuỷ phi cơ.
CHƯƠNG XII
TRỤC VỚT TÀI SẢN CHÌM ĐẮM
Điều 197. Tài sản chìm đắm
1. Tài sản chìm đắm là tàu biển, tàu quân sự, tàu công vụ, tàu
cá, phương tiện thuỷ nội địa, thuỷ phi cơ, hàng hoá hoặc các
vật thể khác chìm đắm ở nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam hoặc trôi
nổi trên biển hoặc dạt vào bờ biển Việt Nam.
2. Tài sản chìm đắm gây nguy hiểm là tài sản làm cản trở hoặc
gây nguy hiểm cho hoạt động hàng hải, tài nguyên biển; đe dọa
tính mạng và sức khoẻ con người; gây ô nhiễm môi trường.
Điều 198. Nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản chìm đắm
1. Chủ sở hữu tài sản chìm đắm có nghĩa vụ trục vớt tài sản
chìm đắm và chịu mọi chi phí liên quan đến việc trục vớt, trừ
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp chủ tài
sản chìm đắm không thực hiện việc trục vớt hoặc trục vớt không
đúng thời hạn yêu cầu thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
định tại Điều 205 của Bộ luật này quyết định việc trục vớt tài
sản đó.
2. Trường hợp tài sản chìm đắm là tàu biển, hàng hoá hoặc các
vật thể khác từ tàu biển thì chủ tàu có nghĩa vụ trục vớt tài
sản chìm đắm và chịu chi phí liên quan. Người quản lý tàu, người
khai thác tàu chịu trách nhiệm liên đới trong việc trục vớt
tài sản chìm đắm và thanh toán các chi phí có liên quan đến
việc trục vớt tài sản.
3. Trường hợp tài sản chìm đắm gây ô nhiễm môi trường, chủ sở
hữu tài sản chìm đắm phải áp dụng mọi biện pháp phòng ngừa,
hạn chế thiệt hại xảy ra và bồi thường thiệt hại ô nhiễm môi
trường theo quy định của pháp luật.
Điều 199. Thời hạn thông báo và trục vớt tài sản chìm
đắm
Trừ trường hợp quy định tại Điều 200 của Bộ luật này, thời hạn
thông báo và trục vớt tài sản chìm đắm được quy định như sau:
1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tài sản bị chìm đắm,
chủ sở hữu tài sản chìm đắm phải thông báo cho cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định tại Điều 205 của Bộ luật này về việc
trục vớt và dự kiến thời hạn kết thúc trục vớt;
2. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được thông báo
nói trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 205
của Bộ luật này quyết định thời hạn dự kiến kết thúc hoạt động
trục vớt hoặc quy định cụ thể thời hạn chủ sở hữu tài sản phải
kết thúc hoạt động trục vớt, nhưng thời hạn này không được quá
một năm.
Điều 200. Trục vớt tài sản chìm đắm gây nguy hiểm
1. Chủ sở hữu tài sản chìm đắm gây nguy hiểm có nghĩa vụ thông
báo ngay cho Giám đốc Cảng vụ hàng hải nơi gần nhất biết sự
cố xảy ra và phải tiến hành trục vớt hoặc phá huỷ tài sản đó
trong thời hạn do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định.
Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản không trục vớt hoặc người
trục vớt do chủ sở hữu tài sản chỉ định không có khả năng bảo
đảm trục vớt tài sản đúng thời hạn thì Bộ trưởng Bộ Giao thông
vận tải tổ chức trục vớt và quyết định thời hạn chủ sở hữu tài
sản phải thanh toán các chi phí liên quan.
Chủ sở hữu tài sản phải bồi thường các tổn thất liên quan và
bị xử phạt theo quy định của pháp luật, ngay cả khi bị mất quyền
sở hữu đối với tài sản bị chìm đắm quy định tại khoản 1 Điều
202 của Bộ luật này.
2. Sau ba mươi ngày, kể từ ngày nhận thông báo về việc tài sản
đã được trục vớt, nếu chủ sở hữu tài sản không yêu cầu nhận
lại tài sản hoặc không thanh toán các chi phí liên quan trong
thời hạn quy định thì Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết
định bán đấu giá tài sản. Trường hợp tài sản chìm đắm gây nguy
hiểm thuộc loại tài sản mau hỏng hoặc chi phí cho việc bảo quản
lớn hơn so với giá trị của tài sản đó thì Bộ trưởng Bộ Giao
thông vận tải quyết định việc bán đấu giá tài sản ngay sau khi
trục vớt. Việc tổ chức bán đấu giá được thực hiện theo quy định
của pháp luật.
3. Sau khi thanh toán các chi phí trục vớt, bảo quản, bán đấu
giá và các chi phí hợp lý khác có liên quan đến tài sản quy
định tại khoản 2 Điều này, nếu còn tiền bán đấu giá thì phải
được gửi vào ngân hàng và thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết;
sau một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày thông báo, nếu chủ sở
hữu tài sản không nhận số tiền còn lại thì số tiền này cùng
với tiền lãi được sung vào công quỹ nhà nước.
4. Trường hợp số tiền bán đấu giá tài sản chìm đắm theo quy
định tại khoản 3 Điều này không đủ để bù đắp chi phí thì chủ
sở hữu tài sản chìm đắm phải hoàn trả đủ số tiền còn thiếu trong
thời hạn do cơ quan quyết định trục vớt tài sản chìm đắm đó
xác định; nếu chủ sở hữu tài sản chìm đắm không có khả năng
chi trả hoặc không xác định được chủ sở hữu tài sản chìm đắm
thì số tiền còn thiếu được lấy từ ngân sách nhà nước.
Điều 201. Quyền ưu tiên trục vớt tài sản chìm đắm
Tổ chức, cá nhân Việt Nam được quyền ưu tiên trong việc giao
kết hợp đồng trục vớt tài sản chìm đắm tại nội thuỷ, lãnh hải
Việt Nam.
Điều 202. Mất quyền sở hữu đối với tài sản chìm đắm
1. Chủ sở hữu tài sản mất quyền sở hữu đối với tài sản chìm
đắm trong trường hợp không thông báo hoặc không trục vớt tài
sản trong thời hạn quy định tại Điều 199 và Điều 200 của Bộ
luật này và tài sản chìm đắm đó đương nhiên trở thành tài sản
của Nhà nước Việt Nam.
2. Trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quy định tại Điều 205 của Bộ luật này quyết
định việc xử lý tài sản chìm đắm.
3. Chủ sở hữu tài sản chìm đắm gây nguy hiểm bị mất quyền sở
hữu quy định tại khoản 1 Điều này vẫn phải chịu trách nhiệm
bồi thường thiệt hại và bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
Điều 203. Xử lý tài sản chìm đắm ngẫu nhiên trục vớt
được
1. Trường hợp ngẫu nhiên trục vớt được tài sản trong nội thuỷ,
lãnh hải Việt Nam hoặc khi đưa tài sản ngẫu nhiên trục vớt được
vào nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam, người trục vớt phải thông báo
ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 205
của Bộ luật này về thời điểm, địa điểm và các sự kiện liên quan
khác; bảo vệ tài sản đó đến khi giao lại cho chủ sở hữu tài
sản hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thông báo cho chủ
sở hữu tài sản biết, nếu có điều kiện.
2. Trường hợp tài sản trục vớt quy định tại khoản 1 Điều này
thuộc loại mau hỏng hoặc khi chi phí cho việc bảo quản tài sản
là quá lớn thì người trục vớt có quyền xử lý tài sản theo quy
định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 200 của Bộ luật này.
3. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thông báo mà chủ
sở hữu tài sản không yêu cầu nhận lại tài sản hoặc không thanh
toán các khoản nợ thì người trục vớt có nghĩa vụ giao nộp tài
sản đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều
205 của Bộ luật này.
4. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày thông báo mà chủ
tài sản quy định tại khoản 3 Điều này không có hành động gì
để bảo vệ quyền lợi của mình thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quy định tại Điều 205 của Bộ luật này có quyền xử lý tài sản
theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 200 của Bộ luật này.
5. Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, người trục vớt
được hưởng tiền công trục vớt và nhận lại chi phí liên quan
khác theo các nguyên tắc tương tự về tiền công cứu hộ hàng hải.
6. Trường hợp không xác định được chủ sở hữu tài sản chìm đắm
thì xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 204. Xử lý tài sản trôi nổi trên biển, dạt vào
bờ biển
1. Việc xử lý tài sản trôi nổi trên biển, dạt vào bờ biển được
áp dụng theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 203
của Bộ luật này.
2. Người tìm thấy, cứu hoặc tham gia cứu được tài sản của người
khác đang trôi nổi trên biển được hưởng tiền công theo nguyên
tắc tương tự về tiền công cứu hộ hàng hải, nếu đã thông báo
cho chủ sở hữu tài sản biết chậm nhất là khi giao tài sản về
yêu cầu của mình.
3. Người tìm thấy, bảo quản tài sản dạt vào bờ biển được hưởng
một khoản tiền thưởng và bồi hoàn chi phí bảo quản không quá
30% giá thị trường của tài sản đó, nếu đã thông báo cho chủ
sở hữu tài sản biết chậm nhất là khi giao tài sản về yêu cầu
của mình.
Điều 205. Thẩm quyền xử lý tài sản chìm đắm
1. Bộ Giao thông vận tải chủ trì tổ chức xử lý tài sản chìm
đắm gây nguy hiểm.
2. Bộ Văn hoá - Thông tin chủ trì tổ chức xử lý tài sản chìm
đắm là di sản văn hoá.
3. Bộ Quốc phòng chủ trì tổ chức xử lý tài sản chìm đắm liên
quan đến quốc phòng, an ninh và tài sản chìm đắm trong khu vực
quân sự.
4. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ
trì tổ chức xử lý tài sản chìm đắm không thuộc tài sản quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
5. Chính phủ quy định chi tiết việc xử lý tài sản chìm đắm.
CHƯƠNG XIII
TAI NẠN ĐÂM VA
Điều 206. Tai nạn đâm va
Tai nạn đâm va là tai nạn xảy ra do đâm va giữa tàu biển với
tàu biển, tàu biển với phương tiện thuỷ nội địa, tàu biển với
thuỷ phi cơ hoặc giữa các phương tiện khác trên biển, trong
vùng nước cảng biển.
Điều 207. Nghĩa vụ của thuyền trưởng khi xảy ra tai
nạn đâm va
1. Khi xảy ra tai nạn đâm va, thuyền trưởng của tàu liên quan
đến tai nạn đâm va có nghĩa vụ tiến hành cứu người, tàu và tài
sản trên tàu khác, nếu hành động đó không gây ra sự nguy hiểm
đặc biệt cho người, tàu và tài sản trên tàu của mình.
2. Ngay sau khi đâm va, thuyền trưởng các tàu liên quan đến
tai nạn đâm va có nghĩa vụ trao đổi cho nhau biết tên tàu, hô
hiệu, nơi đăng ký, cảng rời cuối cùng và cảng định đến.
3. Chủ tàu không chịu trách nhiệm về việc thuyền trưởng không
thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 208. Nguyên tắc xác định lỗi và bồi thường tổn
thất trong tai nạn đâm va
1. Tàu có lỗi gây ra tai nạn đâm va là tàu gây ra sự đâm va
do có hành động hoặc sự sơ suất trong việc trang bị, điều khiển,
quản lý tàu; trong việc chấp hành quy tắc phòng ngừa đâm va
trên biển và quy định bảo đảm an toàn hàng hải; do không thực
hiện những tập quán nghề nghiệp cần thiết.
2. Tàu có lỗi gây ra tai nạn đâm va phải bồi thường tổn thất
về tàu, người và tài sản liên quan đến tai nạn đâm va đó. Trường
hợp có hai hoặc nhiều tàu cùng có lỗi trong một tai nạn đâm
va thì trách nhiệm bồi thường được phân bổ tuỳ theo mức độ lỗi
của mỗi bên; nếu mức độ lỗi bằng nhau hoặc khi không xác định
cụ thể mức độ lỗi của mỗi bên thì trách nhiệm bồi thường được
phân bổ đều cho tất cả các bên.
3. Khi chưa xác định được lỗi một cách rõ ràng thì không tàu
nào bị coi là đã có lỗi gây ra tai nạn đâm va.
4. Trong trường hợp bồi thường tính mạng, thương tích hoặc tổn
hại khác về sức khoẻ con người, các tàu có lỗi phải chịu trách
nhiệm liên đới. Tàu đã bồi thường vượt quá trách nhiệm của mình
có quyền đòi các tàu liên quan hoàn trả số tiền quá mức đó.
5. Tàu quân sự chỉ được miễn trách nhiệm bồi thường nếu có lỗi
gây ra tai nạn đâm va khi đang làm nhiệm vụ ở vùng diễn tập
quân sự và vùng cấm hoạt động hàng hải đã được công bố, nhưng
thuyền trưởng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều 207 của Bộ luật này nếu điều kiện thực tế
cho phép.
6. Trên cơ sở các quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều
này, các bên liên quan đến tai nạn đâm va được quyền tự thoả
thuận để xác định mức độ lỗi và trách nhiệm bồi thường tổn thất
xảy ra đối với tai nạn đâm va đó; nếu không thoả thuận được
thì có quyền khởi kiện tại Trọng tài hoặc Toà án có thẩm quyền.
Điều 209. Đâm va do bất khả kháng, ngẫu nhiên, không
xác định được lỗi
Trường hợp tai nạn đâm va xảy ra do các nguyên nhân bất khả
kháng, ngẫu nhiên hoặc khi không xác định được tàu có lỗi thì
thiệt hại của tàu nào tàu đó chịu, kể cả trường hợp tàu đang
được neo, buộc hoặc cập mạn một tàu khác thì xảy ra đâm va.
Điều 210. Đâm va không trực tiếp
Các quy định của Chương này được áp dụng khi tàu có lỗi gây
ra tổn thất cho tàu, người và tài sản trên tàu khác mà không
có sự đâm va trực tiếp.
Điều 211. Thời hiệu khởi kiện về tai nạn đâm va
1. Thời hiệu khởi kiện về tai nạn đâm va là hai năm, kể từ ngày
xảy ra tai nạn.
2. Thời hiệu khởi kiện về việc đòi hoàn trả số tiền quá mức
quy định tại khoản 4 Điều 208 của Bộ luật này là một năm, kể
từ ngày trả tiền bồi thường.
Điều 212. Tai nạn đâm va đối với tàu quân sự, tàu công
vụ, tàu cá, phương tiện thuỷ nội địa và thuỷ phi cơ
Các quy định của Chương này được áp dụng đối với tàu quân sự,
tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thuỷ nội địa và thuỷ phi cơ.
CHƯƠNG XIV
TỔN THẤT CHUNG
Điều 213. Tổn thất chung
1. Tổn thất chung là những hy sinh và chi phí bất thường được
thực hiện một cách có ý thức và hợp lý vì sự an toàn chung nhằm
cứu tàu, hàng hoá, hành lý, tiền cước vận chuyển hàng hoá, tiền
công vận chuyển hành khách thoát khỏi hiểm họa chung.
2. Chỉ những mất mát, hư hỏng và chi phí là hậu quả trực tiếp
của hành động gây ra tổn thất chung mới được tính vào tổn thất
chung.
3. Mọi mất mát, hư hỏng và chi phí liên quan đến các thiệt hại
đối với môi trường hoặc là hậu quả của việc rò rỉ hoặc thải
các chất gây ô nhiễm từ tài sản trên tàu trong hành trình chung
trên biển không được tính vào tổn thất chung trong bất kỳ trường
hợp nào.
4. Tiền phạt do dỡ hàng chậm và bất kỳ tổn thất hay thiệt hại
phải chịu hoặc các chi phí phải trả do chậm trễ dù trong hay
sau hành trình và bất kỳ thiệt hại gián tiếp nào khác không
được tính vào tổn thất chung.
5. Chi phí đặc biệt vượt quá mức cần thiết chỉ được tính vào
tổn thất chung trong giới hạn hợp lý đối với từng trường hợp
cụ thể.
Điều 214. Phân bổ tổn thất chung
1. Tổn thất chung được phân bổ theo tỷ lệ trên cơ sở giá trị
phần tổn thất trong hành động gây ra tổn thất chung và phần
cứu được tại thời điểm và nơi tàu ghé vào ngay sau khi xảy ra
tổn thất chung.
2. Các quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với
trường hợp hiểm họa phát sinh do lỗi của người cùng có lợi ích
trong tổn thất chung hoặc của người thứ ba.
3. Việc phân bổ tổn thất chung không loại trừ quyền của người
liên quan đòi người có lỗi phải bồi thường cho mình.
4. Các nguyên tắc dùng để xác định cụ thể giá trị tổn thất và
giá trị phân bổ tổn thất chung do các bên thoả thuận trong hợp
đồng. Trường hợp không có thoả thuận trong hợp đồng thì người
phân bổ tổn thất chung căn cứ vào các quy định của Chương này
và tập quán quốc tế để giải quyết.
Điều 215. Phân bổ tổn thất chung cho hàng hoá bốc lậu
lên tàu
Tổn thất của hàng hoá bốc lậu lên tàu hoặc khai sai về chủng
loại và giá trị không được tính vào tổn thất chung; nếu hàng
hoá đó cũng được cứu thoát khỏi hiểm họa chung thì cũng phải
chịu một giá trị phân bổ tương ứng.
Điều 216. Tổn thất riêng
Mọi tổn thất về tàu, hàng hoá, hành lý, tiền cước vận chuyển
hàng hoá, tiền công vận chuyển hành khách không được tính vào
tổn thất chung theo nguyên tắc quy định tại Điều 213 của Bộ
luật này được gọi là tổn thất riêng. Người bị thiệt hại không
được bồi thường, nếu không chứng minh được tổn thất xảy ra do
lỗi của người khác.
Điều 217. Tuyên bố tổn thất chung và chỉ định người
phân bổ tổn thất chung
1. Việc xác định tổn thất chung, giá trị tổn thất và phân bổ
tổn thất chung do người phân bổ tổn thất chung thực hiện theo
chỉ định của chủ tàu.
2. Chủ tàu là người duy nhất có quyền tuyên bố tổn thất chung
và chỉ định người phân bổ tổn thất chung của mình chậm nhất
là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên bố tổn thất chung.
Điều 218. Thời hiệu khởi kiện về tổn thất chung
Thời hiệu khởi kiện về tổn thất chung là hai năm, kể từ ngày
xảy ra tổn thất chung. Thời gian tiến hành phân bổ tổn thất
chung không tính vào thời hiệu khởi kiện về tổn thất chung.
CHƯƠNG XV
GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ ĐỐI VỚI
CÁC KHIẾU NẠI HÀNG HẢI
Điều 219. Người được quyền giới hạn trách nhiệm dân
sự
1. Chủ tàu được quyền giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các
khiếu nại hàng hải quy định tại Điều 220 của Bộ luật này.
2. Quyền được giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu cũng áp
dụng theo nguyên tắc tương tự đối với người cứu hộ, người khai
thác tàu, người thuê tàu và người quản lý tàu mà chủ tàu hoặc
những người đó phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất
hoặc sai lầm của mình.
3. Trong trường hợp người được bảo hiểm có quyền giới hạn trách
nhiệm của mình đối với các khiếu nại hàng hải thì người bảo
hiểm chịu trách nhiệm đối với các khiếu nại hàng hải đó cũng
có quyền được giới hạn trách nhiệm của mình tương tự như người
được bảo hiểm.
4. Việc sử dụng quyền giới hạn trách nhiệm không có nghĩa là
người được quyền giới hạn trách nhiệm đã thừa nhận mọi trách
nhiệm về mình.
5. Người được quyền giới hạn trách nhiệm dân sự theo quy định
của Chương này mất quyền giới hạn trách nhiệm dân sự của mình,
nếu tổn thất được chứng minh là hậu quả của việc người đó đã
có lỗi trong việc gây ra tổn thất đó.
Điều 220. Các khiếu nại hàng hải áp dụng giới hạn trách
nhiệm dân sự
1. Khiếu nại về chết, bị thương hoặc các tổn hại khác về sức
khoẻ con người; mất mát, hư hỏng đối với tài sản, kể cả hư hỏng
công trình cảng, vùng neo đậu, luồng hàng hải, hệ thống trợ
giúp hàng hải, đã xảy ra trên tàu biển hoặc có liên quan trực
tiếp đến hoạt động của tàu biển hoặc hoạt động cứu hộ và những
tổn thất là hậu quả phát sinh từ các hoạt động đó.
2. Khiếu nại về tổn thất là hậu quả từ việc chậm trễ trong quá
trình vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý bằng đường
biển.
3. Khiếu nại về những tổn thất khác là hậu quả từ vi phạm quyền
lợi ngoài hợp đồng đã xảy ra có liên quan trực tiếp đến hoạt
động của tàu biển hoặc hoạt động cứu hộ.
4. Khiếu nại về việc trục vớt, di chuyển, phá bỏ hoặc làm vô
hại tàu biển bị chìm đắm, phá huỷ hoặc bị bỏ lại, kể cả các
tài sản hiện còn hoặc đã từng ở trên tàu.
5. Khiếu nại về việc di chuyển, tiêu huỷ hoặc làm cho vô hại
hàng hoá vận chuyển trên tàu biển.
6. Khiếu nại của người không phải là người chịu trách nhiệm
dân sự về những biện pháp mà người này đã thực hiện để ngăn
ngừa hoặc hạn chế các tổn thất mà người chịu trách nhiệm dân
sự có quyền giới hạn trách nhiệm của mình và những tổn thất
phát sinh thêm từ việc thực hiện các biện pháp đó.
Điều 221. Các khiếu nại hàng hải không áp dụng giới
hạn trách nhiệm dân sự
1. Khiếu nại về tiền công cứu hộ hoặc chi phí đóng góp tổn thất
chung.
2. Khiếu nại về thiệt hại do ô nhiễm dầu.
3. Khiếu nại về thiệt hại do ô nhiễm phóng xạ hạt nhân.
4. Khiếu nại của những người làm công cho chủ tàu, cho người
cứu hộ mà nhiệm vụ của họ có liên quan đến hoạt động của tàu
biển hoặc đến hoạt động cứu hộ; khiếu nại của những người thừa
kế của họ, những người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng hoặc
của người khác được quyền khiếu nại tương tự, nếu theo luật
điều chỉnh hợp đồng lao động giữa chủ tàu hoặc người cứu hộ
với những người này, chủ tàu hoặc người cứu hộ không được phép
giới hạn trách nhiệm dân sự đối với những khiếu nại đó hay chỉ
được giới hạn trách nhiệm dân sự ở mức cao hơn so với mức giới
hạn quy định tại Điều 222 của Bộ luật này.
Điều 222. Mức giới hạn trách nhiệm dân sự
1. Mức giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các khiếu nại hàng
hải trong trường hợp chết, bị thương hoặc tổn hại khác về sức
khoẻ xảy ra cho hành khách và mất mát, hư hỏng hành lý được
vận chuyển bằng đường biển áp dụng theo quy định tại Điều 132
của Bộ luật này.
2. Mức giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các khiếu nại hàng
hải khác trong trường hợp chết, bị thương hoặc tổn hại khác
về sức khoẻ xảy ra cho những người không phải là hành khách
được quy định như sau:
a) 167.000 đơn vị tính toán đối với tàu biển đến 300 GT;
b) 333.000 đơn vị tính toán đối với tàu biển từ trên 300 GT
đến 500 GT;
c) Đối với tàu biển từ trên 500 GT thì ngoài quy định tại điểm
b khoản này áp dụng cho 500 GT đầu tiên, giới hạn trách nhiệm
sẽ được tính thêm như sau: 500 đơn vị tính toán cho mỗi GT,
từ GT thứ 501 đến GT thứ 3.000; 333 đơn vị tính toán cho mỗi
GT, từ GT thứ 3.001 đến GT thứ 30.000; 250 đơn vị tính toán
cho mỗi GT, từ GT thứ 30.001 đến GT thứ 70.000; 167 đơn vị tính
toán cho mỗi GT, từ GT thứ 70.001 trở lên.
3. Mức giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các khiếu nại hàng
hải khác được quy định như sau:
a) 83.000 đơn vị tính toán đối với tàu biển không quá 300 GT;
b) 167.000 đơn vị tính toán đối với tàu biển từ trên 300 GT
đến 500 GT;
c) Đối với tàu biển từ trên 500 GT thì ngoài quy định tại điểm
b khoản này áp dụng cho 500 GT đầu tiên, giới hạn trách nhiệm
sẽ được tính thêm như sau: 167 đơn vị tính toán cho mỗi GT,
từ GT thứ 501 đến GT thứ 30.000; 125 đơn vị tính toán cho mỗi
GT, từ GT thứ 30.001 đến GT thứ 70.000; 83 đơn vị tính toán
cho mỗi GT, từ GT thứ 70.001 trở lên.
4. Trường hợp tổng số tiền được tính theo khoản 2 Điều này không
đủ để trả cho các khiếu nại hàng hải đó thì tổng số tiền được
tính theo khoản 3 Điều này sẽ được sử dụng để trả cho những
khoản tiền thiếu đối với khiếu nại hàng hải theo khoản 2 Điều
này và khoản tiền thiếu này được tính theo tỷ lệ tương ứng với
các khiếu nại hàng hải khác tại khoản 2 Điều này.
5. Khiếu nại hàng hải quy định tại khoản 3 Điều này liên quan
đến thiệt hại xảy ra đối với các công trình cảng, vùng neo đậu,
luồng hàng hải, hệ thống trợ giúp hàng hải được ưu tiên giải
quyết trước.
6. Giới hạn trách nhiệm đối với người cứu hộ không hoạt động
trên một tàu biển nào hoặc chỉ hoạt động trên chính tàu biển
mà người đó đang cung cấp các dịch vụ cứu hộ hoặc liên quan
đến nó được tính tương đương với một tàu 1.500 GT.
7. Các giới hạn trách nhiệm quy định tại Điều này được áp dụng
cho tổng giá trị các khiếu nại phát sinh trong cùng một vụ việc
riêng biệt.
8. Mức giới hạn trách nhiệm dân sự quy định tại Điều này được
chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh
toán.
9. Tổng dung tích là dung tích toàn phần (GT) của tàu biển được
xác định theo Công ước quốc tế về đo dung tích tàu biển năm
1969.
Điều 223. Quỹ bảo đảm bồi thường
1. Người được quyền giới hạn trách nhiệm dân sự theo quy định
của Bộ luật này có thể lập Quỹ bảo đảm bồi thường để giải quyết
các khiếu nại hàng hải mà mình được quyền giới hạn trách nhiệm.
Quỹ bảo đảm bồi thường được lập với giá trị bằng tổng các khoản
quy định tại Điều 222 của Bộ luật này cộng với lãi suất kể từ
ngày xảy ra vụ việc dẫn đến khiếu nại hàng hải cho tới ngày
lập Quỹ bảo đảm bồi thường.
2. Quỹ bảo đảm bồi thường chỉ để giải quyết cho những người
khiếu nại hàng hải theo tỷ lệ tương ứng giữa các khiếu nại hàng
hải đã xác lập so với tổng giá trị Quỹ bảo đảm bồi thường.
3. Quỹ bảo đảm bồi thường được lập bằng cách chủ tàu ký quỹ
hoặc bằng hình thức bảo đảm tài chính khác được Toà án đã thụ
lý vụ việc chấp thuận.
4. Sau khi Quỹ bảo đảm bồi thường được lập, không ai có quyền
xâm phạm quyền lợi hoặc tài sản của người có trách nhiệm bồi
thường. Toà án có quyền ra lệnh giải phóng tài sản đã bị giữ
của người có trách nhiệm bồi thường hoặc chấm dứt các bảo đảm
tương tự mà người có trách nhiệm bồi thường đã cung cấp.
5. Trường hợp trước khi Quỹ bảo đảm bồi thường được phân bổ
và người có trách nhiệm bồi thường hoặc những người khác được
quyền giới hạn trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật
này đã thực hiện giải quyết khiếu nại hàng hải thuộc phạm vi
Quỹ bảo đảm bồi thường phải chi trả thì những người này được
hưởng mọi quyền lợi từ Quỹ bảo đảm bồi thường đối với khiếu
nại hàng hải đã giải quyết, trong phạm vi tổng số tiền đã trả
theo nguyên tắc thế quyền.
6. Việc lập Quỹ bảo đảm bồi thường không có nghĩa là chủ tàu
đã thừa nhận mọi trách nhiệm về mình.
CHƯƠNG XVI
HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI
MỤC 1
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 224. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải
1. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng bảo hiểm các rủi ro
hàng hải, theo đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người
được bảo hiểm những tổn thất hàng hải thuộc trách nhiệm bảo
hiểm theo cách thức và điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng.
Rủi ro hàng hải là những rủi ro xảy ra liên quan đến hành trình
đường biển, bao gồm các rủi ro của biển, cháy, nổ, chiến tranh,
cướp biển, trộm cắp, kê biên, quản thúc, giam giữ, ném hàng
xuống biển, trưng thu, trưng dụng, trưng mua, hành vi bất hợp
pháp và các rủi ro tương tự hoặc những rủi ro khác được thoả
thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
2. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể mở rộng theo những điều
kiện cụ thể hoặc theo tập quán thương mại để bảo vệ quyền lợi
của người được bảo hiểm đối với những tổn thất xảy ra trên đường
thủy nội địa, đường bộ hoặc đường sắt thuộc cùng một hành trình
đường biển.
3. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải phải được giao kết bằng văn bản.
Điều 225. Đối tượng bảo hiểm hàng hải
Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất kỳ quyền lợi vật chất
nào liên quan đến các hoạt động hàng hải mà có thể quy ra tiền,
bao gồm tàu biển, tàu biển đang đóng, hàng hoá, tiền cước vận
chuyển hàng hoá, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê
tàu, tiền thuê mua tàu, tiền lãi ước tính của hàng hoá, các
khoản hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân sự và
các khoản tiền được bảo đảm bằng tàu, hàng hoá hoặc tiền cước
vận chuyển.
Điều 226. Xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm
1. Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có quyền
lợi đối với đối tượng bảo hiểm trong một hành trình đường biển.
2. Người có quyền lợi trong một hành trình đường biển khi có
bằng chứng chứng minh là có liên quan đến hành trình này hoặc
bất kỳ đối tượng có thể bảo hiểm nào gặp rủi ro trong hành trình
mà hậu quả là người đó thu được lợi nhuận khi đối tượng bảo
hiểm đến cảng an toàn hoặc không thu được lợi nhuận khi đối
tượng bảo hiểm bị tổn thất, hư hỏng, bị lưu giữ hoặc phát sinh
trách nhiệm.
3. Người được bảo hiểm phải có quyền lợi trong đối tượng bảo
hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất và có thể không có quyền
lợi trong đối tượng bảo hiểm tại thời điểm tham gia bảo hiểm.
Khi đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm theo điều kiện có tổn thất
hoặc không có tổn thất thì người được bảo hiểm vẫn có thể được
bồi thường mặc dù sau khi tổn thất xảy ra mới có quyền lợi bảo
hiểm, trừ trường hợp người được bảo hiểm biết tổn thất đã xảy
ra, còn người bảo hiểm không biết việc đó.
Trường hợp người được bảo hiểm không có quyền lợi trong đối
tượng bảo hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất thì không thể có
được quyền đó bằng bất kỳ hành động hay sự lựa chọn nào sau
khi người được bảo hiểm biết tổn thất đã xảy ra.
4. Trường hợp người mua hàng đã mua bảo hiểm cho hàng hoá thì
có quyền lợi bảo hiểm mặc dù có thể đã từ chối nhận hàng hoặc
đã xử lý hàng hoá đó như đối với hàng hoá thuộc rủi ro của người
bán hàng do giao hàng chậm hoặc vì những lý do khác.
Điều 227. Tái bảo hiểm
1. Người bảo hiểm có thể tái bảo hiểm đối tượng bảo hiểm mà
mình đã nhận bảo hiểm cho người khác.
2. Hợp đồng tái bảo hiểm độc lập với hợp đồng bảo hiểm gốc,
người bảo hiểm gốc vẫn phải chịu trách nhiệm đối với người được
bảo hiểm.
Điều 228. Đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm
1. Theo yêu cầu của người được bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa
vụ cấp đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm cho người
được bảo hiểm. Đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng
chứng về việc giao kết hợp đồng bảo hiểm hàng hải.
2. Đơn bảo hiểm có thể cấp theo các hình thức sau đây:
a) Đơn bảo hiểm chuyến là đơn bảo hiểm cấp cho đối tượng bảo
hiểm từ một địa điểm này đến một hoặc nhiều địa điểm khác;
b) Đơn bảo hiểm thời hạn là đơn bảo hiểm cấp cho đối tượng bảo
hiểm trong một thời gian nhất định;
c) Đơn bảo hiểm định giá là đơn bảo hiểm trong đó người bảo
hiểm đồng ý trước giá trị của đối tượng bảo hiểm ghi trong đơn
bảo hiểm, phù hợp với giá trị được bảo hiểm và được sử dụng
khi giải quyết bồi thường tổn thất toàn bộ hoặc bồi thường tổn
thất bộ phận.
Việc xác định tổn thất toàn bộ ước tính phải căn cứ vào giá
trị ghi trong hợp đồng và quy định tại khoản 1 Điều 254 của
Bộ luật này, trừ trường hợp đơn bảo hiểm có thoả thuận khác;
d) Đơn bảo hiểm không định giá là đơn bảo hiểm không ghi giá
trị của đối tượng bảo hiểm, nhưng số tiền bảo hiểm phải ghi
rõ trong đơn bảo hiểm.
3. Đơn bảo hiểm phải có những nội dung cơ bản sau đây:
a) Tên người được bảo hiểm hoặc tên người đại diện của người
được bảo hiểm;
b) Đối tượng bảo hiểm;
c) Điều kiện bảo hiểm;
d) Thời hạn bảo hiểm;
đ) Số tiền bảo hiểm;
e) Nơi, ngày, tháng và giờ cấp đơn;
g) Chữ ký xác nhận của người bảo hiểm.
4. Hình thức và nội dung cơ bản của đơn bảo hiểm được áp dụng
đối với giấy chứng nhận bảo hiểm.
Điều 229. Nghĩa vụ của người được bảo hiểm
1. Người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm
biết tất cả các thông tin mà mình biết hoặc phải biết liên quan
đến việc giao kết hợp đồng bảo hiểm có thể ảnh hưởng đến việc
xác định khả năng xảy ra rủi ro hoặc quyết định của người bảo
hiểm về việc nhận bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm, trừ thông
tin mà mọi người biết hoặc người bảo hiểm đã biết hoặc phải
biết.
2. Nghĩa vụ của người được bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều
này được áp dụng đối với người đại diện của người được bảo hiểm.
Điều 230. Đương nhiên chấm dứt hiệu lực hợp đồng bảo
hiểm hàng hải
Hợp đồng bảo hiểm hàng hải đương nhiên chấm dứt hiệu lực, nếu
vào thời điểm giao kết hợp đồng, rủi ro được bảo hiểm đã xảy
ra hoặc không có khả năng xảy ra trong thực tế; trong trường
hợp này, người bảo hiểm không phải bồi thường nhưng vẫn có quyền
thu phí bảo hiểm theo hợp đồng, trừ trường hợp trước khi giao
kết, người bảo hiểm đã biết về sự kiện đó.
Điều 231. Quyền chấm dứt hợp đồng bảo hiểm
1. Trường hợp người được bảo hiểm cố ý vi phạm nghĩa vụ quy
định tại Điều 229 của Bộ luật này thì người bảo hiểm có quyền
chấm dứt hợp đồng. Trường hợp người được bảo hiểm không có lỗi
trong việc khai báo không chính xác hoặc không khai báo theo
quy định tại Điều 229 của Bộ luật này thì người bảo hiểm không
có quyền chấm dứt hợp đồng, nhưng có quyền thu thêm phí bảo
hiểm ở mức hợp lý.
2. Trước khi trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu, người được bảo hiểm
có thể yêu cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm hàng hải, nhưng phải
trả cho người bảo hiểm các chi phí hành chính và người bảo hiểm
phải hoàn trả phí bảo hiểm cho người được bảo hiểm.
3. Người bảo hiểm và người được bảo hiểm không được chấm dứt
hợp đồng sau khi trách nhiệm bảo hiểm đã bắt đầu, trừ trường
hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng.
Trường hợp trong hợp đồng có thoả thuận về việc hợp đồng có
thể bị chấm dứt sau khi trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu và người
được bảo hiểm yêu cầu chấm dứt hợp đồng thì người bảo hiểm có
quyền thu phí kể từ ngày trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu cho đến
ngày chấm dứt hợp đồng và việc hoàn phí được tính tương ứng
với thời gian còn lại. Trường hợp người bảo hiểm yêu cầu chấm
dứt hợp đồng thì phí bảo hiểm của thời gian còn lại được hoàn
trả cho người được bảo hiểm kể từ ngày yêu cầu chấm dứt đến
ngày hết hạn hợp đồng.
4. Các quy định tại khoản 2 Điều này không áp dụng trong trường
hợp người được bảo hiểm yêu cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm hàng
hoá và hợp đồng bảo hiểm chuyến đối với tàu biển sau khi trách
nhiệm bảo hiểm bắt đầu.
MỤC 2
GIÁ TRỊ BẢO HIỂM VÀ SỐ TIỀN BẢO HIỂM
Điều 232. Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của đối tượng bảo hiểm và
được xác định như sau:
1. Giá trị bảo hiểm của tàu biển là tổng giá trị của tàu biển
vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm. Giá trị này còn bao gồm giá
trị của máy móc, trang thiết bị, phụ tùng dự trữ của tàu cộng
với toàn bộ phí bảo hiểm. Giá trị của tàu biển còn có thể bao
gồm cả tiền lương ứng trước cho thuyền bộ và chi phí chuẩn bị
chuyến đi được thoả thuận trong hợp đồng;
2. Giá trị bảo hiểm của hàng hoá là giá trị hàng hoá ghi trên
hoá đơn ở nơi bốc hàng hoặc giá thị trường ở nơi và thời điểm
bốc hàng cộng với phí bảo hiểm, tiền cước vận chuyển và có thể
cả tiền lãi ước tính;
3. Giá trị bảo hiểm tiền cước vận chuyển là tổng số tiền cước
vận chuyển cộng với phí bảo hiểm. Trường hợp người thuê vận
chuyển mua bảo hiểm cho tiền cước vận chuyển thì tiền cước này
được tính gộp vào giá trị bảo hiểm của hàng hoá;
4. Giá trị bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm khác, trừ trách nhiệm
dân sự, là giá trị của đối tượng bảo hiểm ở nơi và thời điểm
bắt đầu bảo hiểm cộng với phí bảo hiểm.
Điều 233. Số tiền bảo hiểm
1. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm phải
kê khai số tiền cần bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm (sau đây
gọi là số tiền bảo hiểm).
2. Trường hợp số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm thấp
hơn giá trị bảo hiểm thì người bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi
thường tổn thất theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị
bảo hiểm, kể cả các chi phí khác thuộc phạm vi bảo hiểm.
3. Trường hợp số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm lớn
hơn giá trị bảo hiểm thì phần tiền vượt quá giá trị bảo hiểm
không được thừa nhận.
Điều 234. Bảo hiểm trùng
1. Trường hợp có hai hoặc nhiều đơn bảo hiểm do người được bảo
hiểm, người đại diện của người được bảo hiểm giao kết về cùng
đối tượng bảo hiểm và cùng một rủi ro hàng hải mà tổng số tiền
bảo hiểm vượt quá giá trị bảo hiểm thì người được bảo hiểm được
coi là đã bảo hiểm vượt quá giá trị bằng cách bảo hiểm trùng.
2. Trong trường hợp bảo hiểm trùng quy định tại khoản 1 Điều
này thì tất cả những người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi
thường trong phạm vi giá trị bảo hiểm và mỗi người chỉ chịu
trách nhiệm tương ứng với số tiền bảo hiểm mà mình đã nhận bảo
hiểm.
MỤC 3
CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN THEO HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI
Điều 235. Chuyển nhượng đơn bảo hiểm hàng hải
1. Đơn bảo hiểm hàng hải có thể được chuyển nhượng, trừ trường
hợp trong đơn bảo hiểm có thoả thuận về cấm chuyển nhượng. Đơn
bảo hiểm có thể chuyển nhượng trước hoặc sau khi tổn thất xảy
ra với đối tượng bảo hiểm.
2. Người không có quyền lợi trong đối tượng bảo hiểm thì không
được chuyển nhượng đơn bảo hiểm.
Điều 236. Cách thức chuyển nhượng đơn bảo hiểm hàng
hải
Đơn bảo hiểm hàng hải có thể chuyển nhượng bằng cách người được
bảo hiểm ký bổ sung trên đơn hoặc theo tập quán thương mại.
MỤC 4
BẢO HIỂM BAO
Điều 237. Bảo hiểm bao
1. Bảo hiểm bao là loại bảo hiểm trọn gói, được áp dụng đối
với đối tượng bảo hiểm là một loại hàng hoá hoặc một số hàng
hoá mà người được bảo hiểm gửi đi hoặc nhận được trong một thời
hạn nhất định.
2. Người bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm bao có nghĩa vụ cấp
đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm cho mỗi chuyến hàng
hoặc cho từng đơn vị hàng hoá theo yêu cầu của người được bảo
hiểm.
Điều 238. Thực hiện hợp đồng bảo hiểm bao
1. Người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm bao có nghĩa
vụ thông báo ngay cho người bảo hiểm biết sau khi nhận được
các thông tin liên quan đến việc gửi hàng hoặc nhận hàng và
mỗi lần đều phải thông báo tên tàu biển, tuyến hành trình, hàng
hoá và số tiền bảo hiểm, kể cả trường hợp người bảo hiểm nhận
được thông báo thì có thể hàng đã được gửi hoặc đã đến cảng
trả hàng.
2. Trường hợp người được bảo hiểm cố ý hoặc do cẩu thả mà không
thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này thì người bảo
hiểm có quyền chấm dứt hợp đồng bảo hiểm bao và vẫn được hưởng
phí bảo hiểm tương tự như trong trường hợp hợp đồng được thực
hiện.
Điều 239. Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm bao
Các bên có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm bao với
điều kiện phải thông báo cho nhau biết trước chín mươi ngày.
MỤC 5
THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI
Điều 240. Nộp phí bảo hiểm
Người được bảo hiểm có nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm cho người bảo
hiểm ngay sau khi ký kết hợp đồng hoặc ngay sau khi được cấp
đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm, trừ trường hợp các bên
có thoả thuận khác.
Điều 241. Thông báo rủi ro gia tăng
1. Sau khi hợp đồng bảo hiểm được giao kết mà có bất kỳ thay
đổi nào về rủi ro được bảo hiểm làm tăng mức độ rủi ro thì người
được bảo hiểm có trách nhiệm thông báo cho người bảo hiểm về
sự thay đổi đó ngay khi họ biết.
2. Trường hợp người được bảo hiểm vi phạm các quy định tại khoản
1 Điều này, người bảo hiểm có quyền từ chối bồi thường một phần
hoặc toàn bộ số tiền bảo hiểm.
Điều 242. Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy
ra tổn thất
1. Trường hợp xảy ra tổn thất liên quan đến rủi ro hàng hải
đã được bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ tiến hành
mọi biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất và bảo
đảm cho việc thực hiện quyền khiếu nại của người bảo hiểm với
người có lỗi gây ra tổn thất. Khi thực hiện nghĩa vụ này, người
được bảo hiểm phải thực hiện theo chỉ dẫn hợp lý của người bảo
hiểm.
2. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với tổn thất xảy
ra do người được bảo hiểm quá cẩu thả hoặc cố ý không thực hiện
nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 243. Trách nhiệm bồi hoàn của người bảo hiểm
Người bảo hiểm có trách nhiệm bồi hoàn cho người được bảo hiểm
mọi chi phí hợp lý và cần thiết do người được bảo hiểm sử dụng
để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm; những
chi phí để thực hiện các chỉ dẫn của người bảo hiểm quy định
tại Điều 242 của Bộ luật này hoặc chi phí xác định nguyên nhân,
mức độ tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm
và chi phí đóng góp vào tổn thất chung. Các chi phí này phải
được bồi hoàn theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo
hiểm.
Điều 244. Trách nhiệm bồi thường tổn thất của người
bảo hiểm
1. Người bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường cho những tổn
thất là hậu quả trực tiếp của rủi ro được bảo hiểm trong phạm
vi số tiền bảo hiểm và bồi hoàn những chi phí quy định tại Điều
243 của Bộ luật này, mặc dù tổng số tiền phải trả cho người
được bảo hiểm có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.
2. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với những tổn thất
xảy do hành động cố ý hoặc quá cẩu thả của người được bảo hiểm,
nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất phát
sinh do sơ suất hoặc sai lầm của thuyền trưởng đồng thời cũng
là người được bảo hiểm trong việc điều khiển, quản trị tàu và
các tổn thất do lỗi của thuyền bộ, hoa tiêu hàng hải.
3. Hợp đồng bảo hiểm thân tàu có thể mở rộng để bồi thường thêm
các tổn thất liên quan đến các trách nhiệm trong tai nạn đâm
va thì ngoài trách nhiệm bồi thường các tổn thất của đối tượng
bảo hiểm, người bảo hiểm còn có trách nhiệm bồi thường tổn thất
của người thứ ba, nếu người được bảo hiểm phải chịu trách nhiệm
về tổn thất do tai nạn đâm va, mặc dù tổng số tiền bồi thường
có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.
4. Trường hợp xảy ra rủi ro hàng hải thuộc phạm vi bảo hiểm
của hợp đồng bảo hiểm thì người bảo hiểm có thể bồi thường toàn
bộ số tiền bảo hiểm để được miễn mọi trách nhiệm khác theo các
điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp này,
người bảo hiểm phải thông báo ý định của mình cho người được
bảo hiểm trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được thông
báo của người được bảo hiểm về rủi ro hàng hải đã xảy ra và
hậu quả của nó; người bảo hiểm không được đòi quyền sở hữu đối
tượng bảo hiểm, nếu toàn bộ số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị
bảo hiểm.
Ngoài việc bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm, người bảo hiểm
còn phải bồi hoàn những chi phí nhằm mục đích ngăn ngừa, hạn
chế tổn thất hoặc để sửa chữa, khôi phục đối tượng bảo hiểm
mà người được bảo hiểm đã chi trước khi nhận được thông báo
của người bảo hiểm.
Điều 245. Bồi thường tổn thất xảy ra kế tiếp nhau
1. Người bảo hiểm phải chịu trách nhiệm đối với các tổn thất
xảy ra kế tiếp nhau, mặc dù tổng giá trị tổn thất có thể vượt
quá số tiền bảo hiểm, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong
hợp đồng,
2. Trường hợp đối tượng bảo hiểm bị tổn thất bộ phận mà vẫn
chưa được sửa chữa hoặc bồi thường và tiếp sau đó lại xảy ra
tổn thất toàn bộ thì người được bảo hiểm chỉ được bồi thường
tổn thất toàn bộ.
3. Những quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không loại
trừ trách nhiệm của người bảo hiểm đối với việc bồi hoàn chi
phí liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều
244 của Bộ luật này.
Điều 246. Miễn trách nhiệm đối với người bảo hiểm
1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm,
khi bảo hiểm tàu biển và tiền cước vận chuyển, người bảo hiểm
không chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh trong các trường
hợp sau đây:
a) Tàu biển không đủ khả năng an toàn đi biển vào lúc bắt đầu
chuyến đi, trừ trường hợp tàu biển có khuyết tật ẩn tỳ hoặc
khi xảy ra các tình huống không thể tránh khỏi mặc dù người
được bảo hiểm đã có sự quan tâm thích đáng;
b) Bốc lên tàu biển các chất hoặc vật liệu dễ nổ, dễ cháy hoặc
những hàng hoá nguy hiểm khác không phù hợp với những quy định
về việc vận chuyển loại hàng hoá này, nếu người được bảo hiểm
biết nhưng người bảo hiểm không biết.
2. Trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm,
khi bảo hiểm hàng hoá, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm
về các tổn thất phát sinh trong các trường hợp sau đây:
a) Tính chất tự nhiên của hàng hoá;
b) Hàng hoá rò rỉ, hao hụt hoặc hao mòn tự nhiên;
c) Đóng gói không đúng quy cách hoặc không thích hợp;
d) Chậm trễ trong việc cung ứng hàng hoá.
3. Trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm,
người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với tổn thất của đối
tượng bảo hiểm xảy ra do chiến tranh hoặc những hoạt động quân
sự với bất kỳ tính chất nào và hậu quả của nó; bị cưỡng đoạt;
gây rối; đình công hoặc những tổn thất xảy ra do hành động trưng
thu, trưng dụng, trưng mua, bắt giữ, phá huỷ tàu biển hoặc hàng
hoá theo mệnh lệnh quân sự hoặc quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
MỤC 6
CHUYỂN QUYỀN ĐÒI BỒI THƯỜNG
Điều 247. Chuyển quyền đòi bồi thường
Khi đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm, người bảo
hiểm được quyền truy đòi người có lỗi gây ra tổn thất đó (sau
đây gọi là người thứ ba) trong phạm vi số tiền đã trả. Người
bảo hiểm thực hiện quyền này theo quy định đối với người được
bảo hiểm.
Điều 248. Nghĩa vụ của người được bảo hiểm trong việc
đòi người thứ ba
1. Người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm
mọi tin tức, tài liệu, bằng chứng và phải áp dụng những biện
pháp cần thiết để người bảo hiểm có thể thực hiện quyền truy
đòi người thứ ba.
2. Trường hợp người được bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ quy
định tại khoản 1 Điều này hoặc có lỗi làm cho quyền truy đòi
của người bảo hiểm không thể thực hiện được thì người bảo hiểm
được miễn trả toàn bộ tiền bồi thường hoặc được giảm ở mức hợp
lý.
3. Trường hợp người được bảo hiểm đã nhận tiền bồi thường tổn
thất do bên thứ ba trả thì người bảo hiểm chỉ có nghĩa vụ trả
phần tiền chênh lệch giữa số tiền phải bồi thường theo hợp đồng
bảo hiểm và số tiền mà người được bảo hiểm đã nhận từ người
thứ ba.
Điều 249. Bảo lãnh đóng góp tổn thất chung
1. Người bảo hiểm phải ký bảo lãnh đóng góp tổn thất chung trong
phạm vi số tiền bảo hiểm trên cơ sở cam kết đóng góp tổn thất
chung của người được bảo hiểm, trừ trường hợp có thoả thuận
khác trong hợp đồng bảo hiểm.
2. Khi phân bổ tổn thất chung, người được bảo hiểm có nghĩa
vụ quan tâm thích đáng các quyền lợi của người bảo hiểm.
MỤC 7
TỪ BỎ ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM
Điều 250. Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm
1. Người được bảo hiểm có quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm và
chuyển cho người bảo hiểm quyền và nghĩa vụ của mình liên quan
đến đối tượng bảo hiểm để nhận tiền bồi thường tổn thất toàn
bộ, nếu đối tượng bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ là không thể
tránh khỏi hoặc việc ngăn ngừa tổn thất đó gây ra chi phí quá
cao so với giá trị của đối tượng bảo hiểm.
2. Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm có thể được áp dụng trong
trường hợp tàu biển bị chìm đắm, bị cưỡng đoạt, bị hư hỏng do
tai nạn mà không thể sửa chữa được hoặc chi phí sửa chữa, phục
hồi, chuộc tàu biển là không có hiệu quả kinh tế.
3. Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm quy định tại khoản 2 Điều
này cũng được áp dụng đối với hàng hoá, kể cả trường hợp chi
phí sửa chữa, vận chuyển hàng hoá đến cảng trả hàng là quá cao
so với giá thị trường của hàng hoá đó tại cảng trả hàng.
Điều 251. Cách thức và thời hạn thực hiện quyền từ
bỏ đối tượng bảo hiểm
1. Việc thực hiện quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm phải được tuyên
bố bằng văn bản ghi rõ căn cứ áp dụng quyền từ bỏ đối tượng
bảo hiểm.
2. Tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm phải được gửi cho người
bảo hiểm trong thời hạn hợp lý, nhưng không được quá một trăm
tám mươi ngày, kể từ ngày người được bảo hiểm biết về các sự
kiện làm căn cứ để áp dụng quyền từ bỏ hoặc trong thời hạn sáu
mươi ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn bảo hiểm trong trường
hợp tàu biển hoặc hàng hoá bị cưỡng đoạt hoặc bị mất quyền chiếm
hữu vì những nguyên nhân khác; sau thời hạn quy định tại khoản
này, người được bảo hiểm bị mất quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm,
nhưng vẫn có quyền đòi bồi thường tổn thất.
3. Việc từ bỏ đối tượng bảo hiểm không được kèm theo bất kỳ
điều kiện nào; nếu việc từ bỏ đã được chấp nhận thì người bảo
hiểm và người được bảo hiểm không được quyền thay đổi quyết
định của mình.
Điều 252. Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi tuyên
bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm
Khi tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm, người được bảo hiểm có
nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm những thông tin liên quan
đến quyền về tài sản đối với đối tượng bảo hiểm, các khoản bảo
hiểm và hạn chế khác mà người được bảo hiểm biết.
Điều 253. Thời hạn chấp nhận hoặc từ chối việc từ bỏ
đối tượng bảo hiểm của người bảo hiểm
1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được tuyên bố
từ bỏ đối tượng bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo
bằng văn bản cho người được bảo hiểm biết là chấp nhận hoặc
từ chối việc từ bỏ; sau thời hạn này, người bảo hiểm mất quyền
từ chối.
2. Quyền và nghĩa vụ liên quan đến đối tượng bảo hiểm được chuyển
cho người bảo hiểm ngay sau khi người bảo hiểm thông báo chấp
nhận việc từ bỏ; người bảo hiểm có thể không đòi quyền này.
3. Trường hợp việc tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm được thực
hiện đúng quy định mà người bảo hiểm không chấp nhận việc từ
bỏ thì người được bảo hiểm vẫn có quyền đòi bồi thường.
Điều 254. Bồi thường tổn thất toàn bộ
1. Tổn thất toàn bộ ước tính là tổn thất do tàu biển, hàng hoá
bị hư hỏng mà xét thấy không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ
hoặc chi phí sửa chữa, phục hồi vượt quá giá trị của tàu biển
sau khi sửa chữa hoặc vượt quá giá thị trường của hàng hoá đó
tại cảng trả hàng; trong trường hợp này, người được bảo hiểm
phải gửi tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm đến người bảo hiểm
trước khi yêu cầu trả tiền bảo hiểm.
2. Tổn thất toàn bộ thực tế là tổn thất do tàu biển, hàng hoá
bị phá huỷ, hư hỏng toàn bộ mà không phục hồi được hoặc tàu
biển mất tích cùng hàng hoá; trong trường hợp này, người được
bảo hiểm có thể đòi người bảo hiểm bồi thường toàn bộ số tiền
bảo hiểm mà không phải tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm.
3. Trường hợp tàu biển mất tích là tàu biển được bảo hiểm có
thời hạn, người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường nếu
đã nhận được tin cuối cùng về tàu biển trước khi kết thúc thời
hạn bảo hiểm. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường
nếu chứng minh được tàu biển mất tích sau khi thời hạn bảo hiểm
kết thúc.
Điều 255. Hoàn trả tiền bảo hiểm
Trường hợp người bảo hiểm đã trả tiền bồi thường mà sau đó tàu
biển lại thoát khỏi rủi ro hàng hải thì người bảo hiểm có quyền
yêu cầu người được bảo hiểm tiếp tục sở hữu tàu biển đó và hoàn
lại số tiền đã được bồi thường sau khi khấu trừ tiền bồi thường
tổn thất bộ phận của tàu biển với điều kiện tổn thất bộ phận
đó là hậu quả trực tiếp của rủi ro hàng hải được bảo hiểm.
MỤC 8
GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG
Điều 256. Trách nhiệm giải quyết bồi thường
Khi thanh toán tiền bồi thường tổn thất của đối tượng bảo hiểm,
người bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảo hiểm trình bày
về sự kiện liên quan, xuất trình các tài liệu, bằng chứng cần
thiết cho việc đánh giá sự kiện và mức độ tổn thất.
Điều 257. Thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng
bảo hiểm hàng hải
Thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hải
là hai năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp.
CHƯƠNG XVII
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÀNG HẢI
Điều 258. Tranh chấp hàng hải
Tranh chấp hàng hải là các tranh chấp phát sinh liên quan đến
hoạt động hàng hải.
Điều 259. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp hàng hải
1. Các bên liên quan có thể giải quyết tranh chấp hàng hải bằng
thương lượng, thoả thuận hoặc khởi kiện tại Trọng tài hoặc Toà
án có thẩm quyền.
2. Tranh chấp hàng hải được Trọng tài hoặc Toà án giải quyết
theo thẩm quyền, thủ tục do pháp luật quy định.
Điều 260. Giải quyết tranh chấp hàng hải có ít nhất
một bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài
1. Trường hợp hợp đồng có ít nhất một bên là tổ chức, cá nhân
nước ngoài thì các bên tham gia hợp đồng có thể thoả thuận đưa
tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án ở nước ngoài.
2. Trường hợp các bên liên quan đến tranh chấp hàng hải đều
là tổ chức, cá nhân nước ngoài và có thoả thuận bằng văn bản
giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Việt Nam thì Trọng tài
Việt Nam có quyền giải quyết đối với tranh chấp hàng hải đó,
ngay cả khi nơi xảy ra tranh chấp ngoài lãnh thổ Việt Nam.
3. Tranh chấp hàng hải quy định tại khoản 2 Điều này cũng có
thể được giải quyết tại Toà án Việt Nam nếu căn cứ xác lập,
thay đổi, chấm dứt quan hệ giữa các bên liên quan đến tranh
chấp hàng hải theo pháp luật Việt Nam hoặc tài sản liên quan
đến quan hệ đó ở Việt Nam.
CHƯƠNG XVIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 261. Hiệu lực thi hành
1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2006.
2. Bộ luật này thay thế Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 1990.
Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm
2005.
|