| |

|
QUỐC HỘI
Luật số: 42/2005/QH11 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
QUỐC
HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Khóa XI, Kỳ họp thứ 7
(Từ ngày 05 tháng 5 đến ngày 14 tháng 6 năm 2005)
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan đã được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày
29 tháng 6 năm 2001.
Điều 1
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan:
1. Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 2: Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng
hóa được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải
xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhận trong nước
và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan; về tổ chức và hoạt động
của hải quan.
2. Bổ sung khoản 18 vào điều 4 như sau:
“18. Lãnh thổ hải quan gåm những khu vực trong lãnh thổ nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong vùng đặc quyền kinh
tế, thềm lục địa của Việt Nam, nơi Luật hải quan được áp dụng.”
3. Bổ sung Điều 5a sau Điều 5 như sau:
“Điều 5a. Hoạt động hợp tác quốc tế của Hải quan
Theo chức năng và quy định của pháp luật, trong phạm vi thẩm
quyền được phân cấp, Hải quan Việt Nam có trách nhiệm:
1. Thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Tổ chức Hải quan thế giới;
2. Đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện thoả thuận quốc tế
song phương với Hải quan nước ngoài;
3. Tổ chức khai thác, trao đổi thông tin và hợp tác nghiệp vụ
với Hải quan các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan.”
4. Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 8. Hiện đại hoá quản lý hải quan
1. Nhà nước ưu tiên đầu tư, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham
gia phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để
bảo đảm áp dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại; khuyến
khích tổ chức, cá nhân có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tham
gia xây dựng, thực hiện giao dịch điện tử và thủ tục hải quan
điện tử.
2. Chính phủ quy định cụ thể về hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật
trao đổi số liệu điện tử, giá trị pháp lý của chứng từ điện
tử phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử;
trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan hải quan các cấp, cơ quan
nhà nước hữu quan, tổ chức, cá nhân hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh trong việc thực hiện thủ tục hải
quan điện tử; các biện pháp khuyến khích quy định tại khoản
1 Điều này.”
5. Điều 11 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 11: Nhiệm vụ của hải quan
Hải quan Việt nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng
hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển
trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật
về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản
lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu,
xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
6. Khoản 1 điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:
1. Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có:
a) Tổng cục hải quan;
b) Cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương;
c) Chi cục hải quan cửa khẩu, đội kiểm soát hải quan và đơn
vị tương đương.
7. Bổ sung khoản 3 vào điều 14 như sau:
3. Nghiêm cấm công chức hải quan bao che, thông đồng để buôn
lậu, gian lận thương mại, gian lận thuế; gây phiền hà, khó khăn
trong việc làm thủ tục hải quan; nhận hối lộ; chiếm dụng, biển
thủ hàng hoá tạm giữ và thực hiện các hành vi khác nhằm mục
đích vụ lợi.”
8. Bổ sung khoản 1a sau khoản 1 điều 15 như sau:
“1a. Kiểm tra hải quan được thực hiện trên cơ sở phân tích thông
tin, đánh giá việc chấp hành pháp luật của chủ hàng, mức độ
rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan để bảo đảm quản lý nhà
nước về hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu;”
9. Điều 16 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 16. Thủ tục hải quan
1. Khi làm thủ tục hải quan, người khai hải quan phải:
a) Khai và nộp tờ khai hải quan; nộp, xuất trình chứng từ thuộc
hồ sơ hải quan; trong trường hợp thực hiện thủ tục hải quan
điện tử, người khai hải quan được khai và gửi hồ sơ hải quan
thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của Hải quan;
b) Đưa hàng hóa, phương tiện vận tải đến địa điểm được quy định
cho việc kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải;
c) Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy
định của pháp luật.
2. Khi làm thủ tục hải quan, công chức hải quan phải:
a) Tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan; trong trường hợp thực
hiện thủ tục hải quan điện tử, việc tiếp nhận và đăng ký hồ
sơ hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu
điện tử của Hải quan;
b) Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương
tiện vận tải;
c) Thu thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
d) Quyết định việc thông quan hàng hóa, phương tiện vận tải.
10. Điều 17 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 17. Địa điểm làm thủ tục hải quan
Địa điểm làm thủ tục hải quan là trụ sở Chi cục hải quan cửa
khẩu, trụ sở chi cục hải quan ngoài cửa khẩu.
Trong trường hợp thực hiện thủ tục hải quan điện tử thì nơi
tiếp nhận, xử lý hồ sơ hải quan có thể là trụ sở Hải quan tỉnh,
liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Trong trường hợp cần thiết, việc kiểm tra thực tế hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu có thể được thực hiện tại địa điểm khác do Tổng
cục trưởng Tổng cục hải quan quyết định.
11. Khoản 1 và khoản 2 Điều 18 được sửa đổi, bổ
sung như sau:
“1. Hàng hoá nhập khẩu được thực hiện trước ngày hàng hoá đến
cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hàng hoá đến
cửa khẩu; tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục hải quan trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày đăng ký;
2. Hàng hoá xuất khẩu được thực hiện chậm nhất là 08 giờ trước
khi phương tiện vận tải xuất cảnh; tờ khai hải quan có giá trị
làm thủ tục hải quan trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày đăng
ký;”
12. Khoản 1 Điều 20 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Khai hải quan được thực hiện thống nhất theo quy định của
Bộ Tài chính.”
13. Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 22. Hồ sơ hải quan
1. Hồ sơ hải quan gồm có:
a) Tờ khai hải quan;
b) Hóa đơn thương mại;
c) Hợp đồng mua bán hàng hóa;
d) Giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải, xuất
khẩu, nhập khẩu, quá cảnh mà theo quy định của pháp luật phải
có giấy phép;
đ) Các chứng từ khác theo quy định của pháp luật đối với từng
mặt hàng mà người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình cho
cơ quan hải quan.
Hồ sơ hải quan là hồ sơ giấy hoặc hồ sơ điện tử. Hồ sơ hải quan
điện tử phải bảo đảm tính toàn vẹn và khuôn dạng theo quy định
của pháp luật.
2. Hồ sơ hải quan được nộp, xuất trình cho cơ quan hải quan
tại trụ sở hải quan. Trong trường hợp có lý do chính đáng, được
thủ trưởng cơ quan hải quan nơi tiếp nhận hồ sơ hải quan đồng
ý, người khai hải quan được gia hạn thời gian phải nộp, xuất
trình một số chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; bổ sung, sửa chữa,
thay thế tờ khai hải quan đã đăng ký đến trước thời điểm kiểm
tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải hoặc trước thời điểm
miễn kiểm tra thực tế hàng hóa; nộp tờ lược khai hải quan và
hoàn chỉnh tờ khai trong thời hạn quy định; khai một lần để
xuất khẩu, nhập khẩu nhiều lần trong một thời gian nhất định
đối với mặt hàng nhất định.
14. Điều 23 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 23: Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan
1.Người khai hải quan có quyền:
a) Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin liên quan đến việc
khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh,
phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và hướng
dẫn làm thủ tục hải quan;
b) Xem trước hàng hóa, lấy mẫu hàng hóa dưới sự giám sát của
công chức hải quan trước khi khai hải quan để đảm bảo việc khai
hải quan được chính xác;
c) Đề nghị cơ quan hải quan kiểm tra lại thực tế hàng hóa đã
kiểm tra, nếu không đồng ý với quyết định của cơ quan hải quan
trong trường hợp hàng hóa chưa được thông quan;
d) Khiếu nại, tố cáo việc làm trái pháp luật của cơ quan hải
quan, công chức hải quan;
đ) Yêu cầu bồi thường thiệt hại do cơ quan hải quan, công chức
hải quan gây ra theo quy định của pháp luật;
e) Sử dụng hồ sơ hải quan điện tử để thông quan hàng hóa;
g) Yêu cầu cơ quan hải quan xác nhận bằng văn bản khi có yêu
cầu xuất trình, bổ sung hồ sơ, chứng từ ngoài hồ sơ, chứng từ
theo quy định của pháp luật về hải quan.
2. Người khai hải quan có nghĩa vụ:
a) Khai hải quan và thực hiện đúng quy định tại khoản 1 điều
16, các điều 18, 20, và 68 của Luật này;
b) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung
đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình, về sự thống nhất
nội dung thông tin giữa hồ sơ giấy lưu tại doanh nghiệp với
hồ sơ điện tử;
c) Thực hiện các quyết định và yêu cầu của cơ quan hải quan,
công chức hải quan trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng
hóa, phương tiện vận tải theo quy định của Luật này;
d) Lưu giữ hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
đã được thông quan trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày đăng ký
tờ khai hải quan; lưu giữ sổ sách, chứng từ kế toán và các chứng
từ khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được
thông quan trong thời hạn do pháp luật quy định; xuất trình
hồ sơ, cung cấp thông tin, chứng từ liên quan khi cơ quan hải
quan yêu cầu kiểm tra theo quy định tại các điều 28, 32, 68
của Luật này;
đ) Bố trí người phục vụ việc kiểm tra thực tế hàng hóa, phương
tiện vận tải;
e) Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy
định của pháp luật;
g) Không được thực hiện hành vi buôn lậu, gian lận thương mại,
gian lận thuế, đưa hối lộ hoặc các hành vi khác nhằm mưu lợi
bất chính.”
15. Khoản 4 Điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“4. Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phải giám định để
xác định có được xuất khẩu, nhập khẩu hay không mà chủ hàng
có yêu cầu đưa hàng hoá về bảo quản thì cơ quan hải quan chỉ
chấp nhận trong trường hợp đã đáp ứng các điều kiện về giám
sát hải quan.
Đối với hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu nhưng phải xác
định giá, trưng cầu giám định, phân tích, phân loại để xác định
số thuế phải nộp thì được thông quan sau khi chủ hàng thực hiện
các nghĩa vụ về thuế trên cơ sở tự kê khai, tính thuế, đáp ứng
các điều kiện quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều này.
Số thuế chính thức phải nộp được xác định sau khi có kết quả
xác định giá, giám định, phân tích, phân loại.”
16. Bổ sung khoản 2a sau khoản 2 Điều 27 như sau:
“2a. Xác nhận bằng văn bản khi yêu cầu người khai hải quan xuất
trình, bổ sung hồ sơ, chứng từ ngoài hồ sơ, chứng từ theo quy
định của pháp luật về hải quan;”
17. Điều 28 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 28. Kiểm tra, đăng ký hồ sơ hải quan
Việc kiểm tra, đăng ký hồ sơ hải quan được thực hiện như sau:
“1. Hồ sơ giấy được kiểm tra, đăng ký theo một trong các hình
thức sau đây:
a) Hồ sơ hải quan của chủ hàng chấp hành tốt pháp luật hải quan
được đăng ký sau khi cơ quan hải quan kiểm tra việc ghi đủ nội
dung yêu cầu trên tờ khai hải quan, số lượng các chứng từ kèm
theo tờ khai hải quan;
b) Hồ sơ hải quan không thuộc quy định tại điểm a khoản 1 Điều
này được đăng ký sau khi cơ quan hải quan đã tiến hành kiểm
tra chi tiết. Khi tiếp nhận hồ sơ hải quan, công chức hải quan
kiểm tra việc khai theo nội dung yêu cầu trên tờ khai hải quan,
chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, sự phù hợp của nội dung khai
hải quan và chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; đăng ký hồ sơ hải
quan theo quy định của pháp luật; trong trường hợp không chấp
nhận đăng ký hồ sơ hải quan thì phải thông báo lý do cho người
khai hải quan biết.
2. Hồ sơ điện tử được kiểm tra, đăng ký, phân loại thông qua
hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan.”
18. Khoản 2 điều 29 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi tiếp nhận và xử lý hồ sơ
hải quan quyết định hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu và thay đổi hình thức kiểm tra được quy định
tại Điều 30 của Luật này.”
19. Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 30. Các hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu để thông quan
1. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc 1 trong các trường hợp
sau đây được miễn kiểm tra thực tế:
a) Hàng hoá xuất khẩu, trừ hàng hoá xuất khẩu sản xuất từ nguyên
liệu nhập khẩu và hàng hoá xuất khẩu có điều kiện;
b) Hàng hóa từ nước ngoài đưa vào khu thương mại tự do, cảng
trung chuyển, kho ngoại quan; hàng hóa quá cảnh; hàng hóa cứu
trợ khẩn cấp; hàng hóa chuyên dùng trực tiếp phục vụ quốc phòng,
an ninh; hàng hóa viện trợ nhân đạo và hàng hóa tạm nhập tái
xuất có thời hạn;
c) Hàng hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị tạo tài sản cố định
thuộc diện được miễn thuế của dự án đầu tư.
2. Ngoài những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, hµng
ho¸ xuất khẩu, nhập khẩu của chủ hàng chấp hành tốt pháp luật
về hải quan, hàng hoá thuộc các trường hợp đặc biệt khác theo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng được miễn kiểm tra thực
tế.
3. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của chủ hàng đã nhiều lần vi
phạm pháp luật về hải quan; hàng hoá thuộc diện miễn kiểm tra
thực tế quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà phát hiện
có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan phải được kiểm tra
thực tế.
4. Hàng hoá không thuộc quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này, căn cứ vào kết quả phân tích thông tin từ cơ sở dữ liệu,
từ trinh sát hải quan, từ cơ quan, tổ chức, cá nhân và Hải quan
các nước mà xác định có khả năng vi phạm pháp luật về hải quan
phải được kiểm tra thực tế.
5. Việc kiểm tra thực tế hàng hóa do công chức hải quan kiểm
tra trực tiếp hoặc kiểm tra bằng máy móc, thiết bị kỹ thuật,
các biện pháp nghiệp vụ khác với sự có mặt của người khai hải
quan hoặc ngừơi đại diện hợp pháp của họ sau khi đăng ký hồ
sơ hải quan và hàng hóa đã được đưa đến địa điểm kiểm tra.
6. Hàng hóa là động vật, thực vật sống, khó bảo quản, hàng hóa
đặc biệt khác được ưu tiên kiểm tra trước.
20. Điều 32 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 32. Kiểm tra sau thông quan
1. Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan
hải quan nhằm:
a) Thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ
mà chủ hàng, người được chủ hàng uỷ quyền, tổ chức, cá nhân
trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với
cơ quan hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được
thông quan;
b) Thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ
tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
2. Kiểm tra sau thông quan được thực hiện trong các trường hợp
sau đây:
a) Có dấu hiệu gian lận thuế, gian lận thương mại, vi phạm qui
định về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu;
b) Đối với các trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản
2 Điều này thì căn cứ vào kết quả phân tích thông tin từ cơ
sở dữ liệu, từ trinh sát hải quan, từ các cơ quan, tổ chức,
cá nhân, Hải quan nước ngoài để quyết định kiểm tra sau thông
quan.
3. Trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan
đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan, Cục
trưởng Cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phồ trực thuộc trung
ương được quyền ra quyết định kiểm tra sau thông quan. Trong
trường hợp cần thiết, Tổng cục trưởng Tổng cục hải quan ra quyết
định kiểm tra sau thông quan.
4. Căn cứ quyết định kiểm tra sau thông quan, công chức hải
quan trực tiếp kiểm tra sổ sách, chứng từ kế toán và các chứng
từ khác có liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu đã được
thông quan tại doanh nghiệp để đối chiếu với tờ khai hải quan
và các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; trong trường hợp cần thiết
và còn điều kiện thì kiểm tra thực tế hàng hóa.
5. Trong quá trình kiểm tra, theo yêu cầu của cơ quan hải quan,
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tạo điều
kiện, cung cấp chứng từ kế toán, thông tin, tài liệu cần thiết
phục vụ cho việc kiểm tra của cơ quan hải quan.
Chính phủ quy định cụ thể về kiểm tra sau thông quan
21. Điều 57 được sửa đổi , bổ sung như sau:
“ Điều 57. Nguyên tắc tạm dừng làm thủ tục hải quan
1. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ theo quy định
của pháp luật Việt Nam có quyền đề nghị dài hạn hoặc trong từng
trường hợp cụ thể để cơ quan hải quan tạm dừng làm thủ tục hải
quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ.
2. Cơ quan hải quan chỉ được quyết định tạm dừng làm thủ tục
hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu khi có đủ các
điều kiện quy định tại Điều 58 của Luật này.
3. Các quy định về việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ quy
định tại Luật này không áp dụng đối với vật phẩm không mang
tính thương mại; hàng hoá quá cảnh.”
22. Điều 69 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 69. Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc
tổ chức thu thuế và các khoản thu khác
1. Tổng cục Hải quan tổ chức thực hiện thống nhất việc thu thuế
và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;
việc áp dụng các biện pháp để bảo đảm thu đúng, thu đủ thuế
và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng
hoá theo chức năng và thẩm quyền được phân cấp kiểm tra việc
kê khai, tính thuế, thực hiện miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế,
không thu thuế, truy thu thuế của người khai hải quan; thu thuế
và quản lý việc nộp thuế; trong trường hợp phát hiện người khai
hải quan tính sai số thuế phải nộp thì sau khi điều chỉnh phải
thông báo cho người khai hải quan biết. Thời hạn truy thu, truy
hoàn số thuế phải nộp được thực hiện theo các quy định của pháp
luật về thuế.”
23. Điều 71 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 71. Trị giá hải quan
Trị giá hải quan được sử dụng làm cơ sở cho việc tính thuế và
thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được
xác định theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Chính phủ quy định cụ thể về trị giá hải quan đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu.
24. Khoản 2 và khoản 3 Điều 74 được sửa đổi, bổ sung như sau:
2. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống
nhất quản lý nhà nước về hải quan.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ tài chính trong việc quản
lý nhà nước về hải quan.
Điều 2
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.
Điều 3
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.
--------------
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm
2005.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Nguyễn Văn An
|
|