|

NGHỊ ĐỊNH
94/1998/NĐ –CP CỦA
CHÍNH PHỦ
(Quy
định chi tiết thi
hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số
điều của Luật Thuế
xuất khẩu, thuế
nhập khẩu số
04/1998/QH10 ngày
20 tháng 5 năm
1998)
-------------------------------------------------------
CHÍNH PHỦ
- Căn cứ Luật
Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
- Căn cứ Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 08 tháng 11 năm 1996; Luật Khuyến
khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10 ngày 20 tháng 5 năm
1998;
- Căn cứ Luật
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày 26 tháng 12 năm 1991; Luật Sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày 5 tháng
7 năm 1993; Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10 ngày 20 tháng 5 năm 1998;
- Theo đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều
1.
Thuế suất thuế nhập khẩu được quy định như sau:
1. Thuế suất đối
với hàng nhập khẩu gồm thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế
suất ưu đãi đặc biệt:
a) Thuế suất ưu
đãi áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước hoặc khối nước có
thoả thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam.
Thuế suất ưu đãi
được quy định trong Biểu thuế nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban
hành. Bộ Tài chính chủ trì cùng với Bộ Thương mại và các Bộ có liên quan
căn cứ vào chính sách xuất, nhập khẩu, sự biến động về giá cả thị trường
trong từng thời gian để điều chỉnh các mức thuế suất trong Biểu thuế
nhập khẩu phù hợp với khung thuế suất do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy
định.
b) Thuế suất thông
thường áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước không có thoả
thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam.
Thuế suất thông
thường được áp dụng thống nhất cao hơn 50% (năm mươi phần trăm) so với
thuế suất ưu đãi quy định tại điểm a, mục 1 của Điều này. Đối với những
trường hợp đặc biệt cần quy định cao hơn hoặc thấp hơn 50% (nhưng không
quá 70% so với thuế suất ưu đãi), sau khi thống nhất ý kiến với Bộ
Thương mại, Bộ Tài chính quy định cho từng trường hợp cụ thể đảm bảo phù
hợp với chính sách và quan hệ thương mại trong từng thời kỳ nhất định.
c) Thuế suất ưu
đãi đặc biệt được áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước hoặc
khối nước mà Việt Nam và nước hoặc khối nước đó đã có thoả thuận ưu đãi
đặc biệt về thuế nhập khẩu theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên
minh quan thuế hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới.
Thuế suất ưu đãi
đặc biệt được áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có đủ các điều kiện sau
đây:
- Phải là những
mặt hàng được quy định cụ thể trong thoả thuận và phải đáp ứng đủ các
điều kiện đã ghi trong thoả thuận.
- Phải là hàng có
xuất xứ tại nước có chung đường biên giới hoặc tại nước thuộc khối nước
mà Việt Nam tham gia về thuế theo thoả thuận.
Bộ Thương mại
hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn xuất xứ hàng hoá quy định tại điểm a, b,
c mục 1 của Điều này.
2. Thuế suất bổ
sung quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 9 Luật Thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu được bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật số 04/1998/QH10 ngày
20/5/1998 sẽ có quy định riêng.
Điều 2.
Hàng xuất khẩu, nhập khẩu được xét miễn thuế quy định tại khoản
2, Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10 được quy định chi tiết như sau:
1. Hàng nhập khẩu
chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho an ninh, quốc phòng, nghiên cứu khoa
học, giáo dục và đào tạo được miễn thuế nhập khẩu theo danh mục hàng hoá
nhập khẩu do Bộ Tài chính thống nhất với các Bộ, ngành có liên quan quy
định.
2. Hàng nhập khẩu
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và của bên nước ngoài hợp tác
kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được miễn thuế nhập
khẩu theo các quy định tại Nghị định 12/CP ngày 18 tháng 2 năm 1996 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam, Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ
về một số biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam và Nghị định số 62/1998/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 1998 của
Chính phủ ban hành quy chế đầu tư theo Hợp đồng xây dựng - kinh doanh -
chuyển giao, Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, Hợp đồng xây
dựng - chuyển giao áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
3. Hàng nhập khẩu
của các doanh nghiệp đầu tư trong nước theo Luật Khuyến khích đầu tư
trong nước được miễn thuế nhập khẩu theo Điều 25 Luật Khuyến khích đầu
tư trong nước (sửa đổi) ngày 20 tháng 5 năm 1998.
4. Hàng là quà
biếu, quà tặng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài cho tổ chức, cá nhân
của Việt Nam và ngược lại, hàng mẫu được miễn thuế theo mức quy định của
Bộ Tài chính.
Bộ Tài chính quy
định thủ tục xét miễn thuế cụ thể đối với từng trường hợp quy định tại
Điều này.
Điều 3.
Kê khai nộp thuế
1. Tổ chức, cá
nhân mỗi lần có hàng hoá được phép xuất khẩu phải kê khai, nộp tờ khai
hàng xuất khẩu, nộp thuế xuất khẩu cho cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục
xuất khẩu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai.
2. Tổ chức, cá
nhân mỗi lần có hàng hoá được phép nhập khẩu phải kê khai, nộp tờ khai
hàng nhập khẩu, nộp thuế nhập khẩu cho cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục
nhập khẩu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai.
Đối với một số cửa
khẩu có lượng hàng nhập khẩu lớn; được phép mở thêm một số địa điểm làm
thủ tục nhập khẩu hàng hoá và thu thuế nhập khẩu. Tổng cục Hải quan
thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính trình Chính phủ quyết định địa điểm
làm thủ tục nhập khẩu được phép mở thêm.
Cơ quan Hải quan
có trách nhiệm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, làm thủ tục hải
quan và thu thuế theo quy định của Nghị định này.
Điều 4.
Kiểm hoá, tính thuế và thời hạn nộp thuế:
1. Thời điểm tính
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là ngày mà tổ chức, cá nhân đăng ký tờ
khai hàng xuất khẩu, nhập khẩu với cơ quan Hải quan. Thuế được tính theo
thuế suất và giá tính thuế tại ngày đăng ký tờ khai hàng xuất khẩu, nhập
khẩu.
2. Trong thời hạn
tám (8) giờ làm việc, kể từ khi tiếp nhận Tờ khai hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu cơ quan Hải quan phải thông báo chính thức cho đối tượng nộp
thuế số thuế phải nộp.
- Đối với một số
mặt hàng có số lượng nhập khẩu mỗi lần lớn (như sắt, thép, phôi thép, xi
măng, clinke, xăng dầu, phân bón ) và những mặt hàng bắt buộc phải có
giám định tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của Chính phủ trước khi
được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam, thì thời hạn thông báo
thuế được kéo dài nhưng không quá 3 ngày làm việc do Tổng cục Hải quan
quy định cụ thể.
- Đối với những
mặt hàng bắt buộc phải có giám định tiêu chuẩn kỹ thuật mới xác định
được mã số theo danh mục Biểu thuế, tình trạng cũ, mới của hàng hoá để
đảm bảo chính xác cho việc tính thuế, thì thời hạn thông báo thuế được
kéo dài quá 3 ngày, nhưng không quá 15 ngày làm việc.
Cơ quan giám định,
cơ quan kiểm tra chất lượng Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo hoàn thành
thời gian giám định, kiểm tra chất lượng đối với các mặt hàng xuất khẩu,
nhập khẩu để cơ quan Hải quan thông báo thuế cho đối tượng nộp thuế.
Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Thương mại, Bộ Tài chính quy định cụ
thể các cơ quan có thẩm quyền giám định, kiểm tra chất lượng hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu và quy định cơ quan quyết định cuối cùng trong
trường hợp có khiếu nại.
3. Thời hạn nộp
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được quy định như sau:
a) Đối với hàng
xuất khẩu là mười lăm (15) ngày, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được
thông báo chính thức của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp.
b) Đối với hàng là
vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu là chín (9)
tháng kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo chính thức của
cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp.
Đối với các trường
hợp đặc biệt do chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu của các
doanh nghiệp phải kéo dài hơn như đóng tàu, thuyền, chế tạo máy móc,
thiết bị cơ khí thì thời hạn nộp thuế có thể được gia hạn phù hợp với
chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu do Bộ Tài chính quyết định
từng trường hợp cụ thể.
Trường hợp đã thực
xuất khẩu hàng hoá được sản xuất bằng vật tư, nguyên liệu nhập khẩu
trong thời hạn nộp thuế quy định trên thì không phải nộp thuế nhập khẩu
tương ứng với số hàng xuất khẩu. Nếu xuất khẩu hàng hoá ngoài thời hạn
nộp thuế quy định thì đối tượng phải nộp thuế theo đúng quy định.
Các doanh nghiệp
sản xuất hàng xuất khẩu phải đăng ký với cơ quan Hải quan hàng hoá là
vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu. Trường hợp các
doanh nghiệp đã đăng ký và được áp dụng thời hạn nộp thuế theo quy định
của khoản này, nhưng tiêu thụ tại Việt Nam thì bị xử lý vi phạm theo quy
định tại Điều 5 của Nghị định này.
Bộ Tài chính quy
định cụ thể điều kiện được áp dụng thời hạn nộp thuế và trường hợp bị xử
lý vi phạm quy định tại khoản này.
c) Đối với hàng
kinh doanh tạm xuất, tái nhập hoặc tạm nhập, tái xuất là mười lăm (15)
ngày kể từ ngày hết thời hạn cho phép tạm xuất, tái nhập hoặc tạm nhập,
tái xuất.
Trường hợp thực
tái nhập (đối với hàng tạm xuất tái nhập) hoặc thực tái xuất (đối với
hàng tạm nhập tái xuất) trong thời hạn nộp thuế quy định thì không phải
nộp thuế xuất khẩu hoặc thuế nhập khẩu tương ứng với số hàng tạm nhập
hoặc tái xuất.
Bộ Thương mại quy
định chung về thời hạn tạm nhập tái xuất và tạm xuất tái nhập.
Đối với các hình
thức tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập khác không phải là hình thức
kinh doanh theo quy định của Bộ Thương mại thì thời hạn nộp thuế thực
hiện theo điểm a, d, đ khoản này.
d) Đối với hàng là
máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phương tiện vận
tải nhập khẩu để phục vụ trực tiếp cho sản xuất của doanh nghiệp là ba
mươi (30) ngày, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo chính
thức của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp.
đ) Đối với hàng
tiêu dùng nhập khẩu thì phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng. Trong
trường hợp có sự bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp của các tổ chức tín
dụng hoặc các tổ chức khác được phép thực hiện một số hoạt động Ngân
hàngtheo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, thì thời hạn nộp thuế
là ba mươi (30) ngày, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo
chính thức của cơ quan thu thuế về số thuế phải nộp. Bộ Thương mại chủ
trì cùng với các Bộ có liên quan để quy định danh mục hàng tiêu dùng
nhập khẩu quy định tại điểm này.
Quá thời hạn nộp
thuế nêu trên mà đối tượng nộp thuế chưa nộp thì tổ chức bảo lãnh phải
có trách nhiệm nộp thay cho đối tượng nộp thuế số tiền thuế đó.
Việc bảo lãnh về
số tiền thuế phải nộp cho đối tượng nộp thuế, quyền và nghĩa vụ của tổ
chức tín dụng thực hiện bảo lãnh, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được
bảo lãnh thực hiện theo Điều 58, 59, 60 Luật Các tổ chức tín dụng ngày
12 tháng 12 năm 1997.
Điều 5.
Đối tượng nộp thuế vi phạm Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì tuỳ
theo từng hành vi và mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định tại khoản
5, Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10 ngày 20 tháng 5 năm 1998 và các văn bản
pháp luật khác về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hải
quan.
Điều 6.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999. Những
quy định khác về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trước đây trái với các
quy định của Nghị định này đều bãi bỏ.
Bộ trưởng Bộ Tài
chính, Bộ trưởng Bộ Thương mại, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam có trách nhiệm phối hợp hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định
này.
Các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi
hành Nghị định này. |