|

LUẬT
CÔNG
ÐOÀN
Ðể phát huy
vai trò của
công đoàn trong
cách mạng xã
hội chủ nghĩa,
bảo đảm quyền
dân chủ và lợi
ích của người
lao động
Căn cứ vào các
Ðiều 10, 32,
83, 86 và Ðiều
106 của Hiến
pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
Luật này quy
định chức năng,
quyền và trách
nhiệm của công
đoàn.
CHƯƠNG
I
NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Ðiều 1
1- Công đoàn
là tổ chức chính
trị - xã hội
rộng lớn của
giai cấp công
nhân và của
người lao động
Việt Nam (gọi
chung là người
lao động) tự
nguyện lập ra
dưới sự lãnh
đạo của Ðảng
cộng sản Việt
Nam; là thành
viên trong hệ
thống chính
trị của xã hội
Việt Nam; là
trường học chủ
nghĩa xã hội
của người lao
động.
2- Những người
lao động Việt
Nam làm việc
trong các đơn
vị sản xuất
kinh doanh thuộc
các thành phần
kinh tế, xí
nghiệp có vốn
đầu tư nước
ngoài, đơn vị
sự nghiệp, cơ
quan Nhà nước,
tổ chức xã hội
(gọi chung là
cơ quan, đơn
vị, tổ chức)
đều có quyền
thành lập và
gia nhập công
đoàn trong khuôn
khổ Ðiều lệ
công đoàn Việt
Nam.
Các hội của
những người
lao động thành
lập theo quy
định của pháp
luật có quyền
gia nhập các
Liên đoàn lao
động.
Khi thành lập,
mỗi tổ chức
công đoàn thông
báo cho cơ quan
chính quyền,
tổ chức hữu
quan để xây
dựng quan hệ
công tác.
Cấm mọi hành
vi cản trở,
vi phạm nguyên
tắc tự nguyện
tham gia tổ
chức và hoạt
động công đoàn;
phân biệt đối
xử với lý do
người lao động
gia nhập, hoạt
động công đoàn.
3- Công đoàn
từ cấp cơ sở
trở lên có tư
cách pháp nhân.
4- Tổng liên
đoàn lao động
Việt
Nam,
các công đoàn
ngành Việt
Nam
có quyền gia
nhập các tổ
chức công đoàn
quốc tế phù
hợp với mục
đích hoạt động
của mình.
Ðiều 2
1- Công đoàn
đại diện và
bảo vệ các quyền,
lợi ích hợp
pháp, chính
đáng của người
lao động; có
trách nhiệm
tham gia với
Nhà nước phát
triển sản xuất,
giải quyết việc
làm, cải thiện
đời sống vật
chất, tinh thần
của người lao
động.
2- Công đoàn
đại diện và
tổ chức người
lao động tham
gia quản lý
cơ quan, đơn
vị, tổ chức,
quản lý kinh
tế - xã hội,
quản lý Nhà
nước; trong
phạm vi chức
năng của mình,
thực hiện quyền
kiểm tra, giám
sát hoạt động
của cơ quan,
đơn vị, tổ chức
theo quy định
của pháp luật.
3- Công đoàn
có trách nhiệm
tổ chức, giáo
dục, động viên
người lao động
phát huy vai
trò làm chủ
đất nước, thực
hiện nghĩa vụ
công dân, xây
dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ
nghĩa.
Ðiều 3
1- Trong mọi
hoạt động, công
đoàn phải tuân
theo Hiến pháp,
pháp luật.
Cơ quan Nhà
nước, thủ trưởng
đơn vị, tổ chức
tôn trọng quyền
độc lập về tổ
chức và các
quyền khác của
công đoàn quy
định tại Luật
này.
2- Cơ quan Nhà
nước, thủ trưởng
đơn vị, tổ chức
và công đoàn
phải tăng cường
mối quan hệ
hợp tác trong
mọi hoạt động
nhằm mục đích
xây dựng cơ
quan, đơn vị,
tổ chức, xây
dựng đất nước
và chăm lo lợi
ích của người
lao động; khi
có những vấn
đề còn có ý
kiến khác nhau
thì phải tiến
hành đối thoại,
hiệp thương,
tìm cách giải
quyết theo đúng
pháp luật. Cơ
quan Nhà nước,
thủ trưởng đơn
vị, tổ chức
có trách nhiệm
tạo điều kiện
cần thiết để
công đoàn hoạt
động.
3- Với sự thoả
thuận của Tổng
liên đoàn lao
động Việt Nam,
Hội đồng bộ
trưởng quy định
cụ thể về mối
quan hệ hoạt
động giữa cơ
quan Nhà nước,
thủ trưởng đơn
vị, tổ chức
với các cấp
công đoàn.
CHƯƠNG
II
QUYỀN VÀ TRÁCH
NHIỆM CỦA CÔNG
ĐOÀN
Ðiều 4
1- Công đoàn
đại diện và
tổ chức người
lao động tham
gia với Nhà
nước xây dựng
và thực hiện
chương trình
phát triển kinh
tế - xã hội,
chính sách,
cơ chế quản
lý kinh tế,
chủ trương,
chính sách liên
quan đến quyền,
nghĩa vụ và
lợi ích của
người lao động.
Chủ tịch Tổng
liên đoàn lao
động Việt Nam
có quyền tham
dự hội nghị
của Hội đồng
bộ trưởng. Chủ
tịch công đoàn
các cấp được
dự hội nghị
của cơ quan
Nhà nước, đơn
vị, tổ chức
hữu quan khi
bàn những vấn
đề liên quan
trực tiếp đến
quyền, nghĩa
vụ và lợi ích
của người lao
động.
2- Công đoàn
có trách nhiệm
tuyên truyền
Hiến pháp và
pháp luật, giáo
dục người lao
động ý thức
chấp hành và
tham gia đấu
tranh bảo vệ
pháp luật, tích
cực xây dựng
chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ
Tổ quốc, bảo
vệ tài sản xã
hội chủ nghĩa,
lao động có
kỷ luật, có
năng suất, chất
lượng và hiệu
quả.
3- Công đoàn
cơ sở cùng với
cơ quan, đơn
vị, tổ chức
bảo đảm thực
hiện quyền làm
chủ của tập
thể lao động
theo quy định
của pháp luật.
4- Công đoàn
cùng với cơ
quan, tổ chức,
đơn vị kinh
tế quốc doanh,
đơn vị sự nghiệp
và hợp tác xã
tổ chức phong
trào thi đua
xã hội chủ nghĩa,
phát huy mọi
tiềm năng của
người lao động
thực hiện các
mục tiêu kinh
tế - xã hội.
Ðiều 5
1- Trong phạm
vi các vấn đề
có liên quan
trực tiếp đến
quyền, nghĩa
vụ và lợi ích
của người lao
động, Tổng liên
đoàn lao động
Việt Nam có
quyền trình
dự án luật,
pháp lệnh ra
trước Quốc hội
và Hội đồng
Nhà nước.
2- Công đoàn
tham gia với
cơ quan Nhà
nước xây dựng
pháp luật, chính
sách, chế độ
về lao động,
tiền lương,
bảo hộ lao động
và các chính
sách xã hội
khác liên quan
trực tiếp đến
quyền, nghĩa
vụ và lợi ích
của người lao
động.
3- Công đoàn
có trách nhiệm
đôn đốc, giám
sát việc thực
hiện các chính
sách, chế độ
về lao động.
Ðiều 6
1- Công đoàn
phối hợp với
cơ quan Nhà
nước nghiên
cứu ứng dụng
khoa học, kỹ
thuật bảo hộ
lao động, xây
dựng các tiêu
chuẩn, quy phạm
an toàn lao
động và vệ sinh
công nghiệp.
2- Công đoàn
có trách nhiệm
giáo dục, vận
động người lao
động chấp hành
nghiêm chỉnh
các quy định
về bảo hộ lao
động và bảo
vệ môi trường.
3- Công đoàn
kiểm tra việc
chấp hành pháp
luật về bảo
hộ lao động.
Khi phát hiện
nơi làm việc
có dấu hiệu
nguy hiểm đến
tính mạng người
lao động, công
đoàn có quyền
yêu cầu người
có trách nhiệm
thực hiện ngay
các biện pháp
bảo đảm an toàn
lao động, kể
cả trường hợp
phải tạm ngừng
hoạt động, nếu
thấy cần thiết.
4- Việc điều
tra các vụ tai
nạn lao động
phải có đại
diện của công
đoàn tham gia.
Công đoàn có
quyền yêu cầu
cơ quan Nhà
nước hoặc Toà
án xử lý người
chịu trách nhiệm
để xảy ra tai
nạn lao động
theo quy định
của pháp luật.
Ðiều 7
Công đoàn tham
gia với cơ quan,
đơn vị tổ chức
hữu quan giải
quyết việc làm,
tổ chức dạy
nghề, nâng cao
trình độ nghề
nghiệp, văn
hoá, khoa học,
kỹ thuật cho
người lao động.
Ðiều 8
1- Công đoàn
tham gia xây
dựng các chính
sách xã hội
và tham gia
với cơ quan
Nhà nước quản
lý bảo hiểm
xã hội theo
quy định của
pháp luật.
2- Công đoàn
có trách nhiệm
cùng cơ quan,
đơn vị, tổ chức
hữu quan chăm
lo đời sống
văn hoá, hoạt
động thể dục
thể thao, tổ
chức nghỉ ngơi,
du lịch cho
người lao động.
3- Công đoàn
cơ sở phối hợp
với cơ quan,
đơn vị, tổ chức
quản lý và sử
dụng quỹ phúc
lợi tập thể,
phục vụ lợi
ích của người
lao động.
Ðiều 9
1- Trong phạm
vi chức năng
của mình, công
đoàn kiểm tra
việc chấp hành
pháp luật về
hợp đồng lao
động, tuyển
dụng, cho thôi
việc, tiền lương,
tiền thưởng,
bảo hộ lao động,
bảo hiểm xã
hội và các chính
sách liên quan
đến quyền, nghĩa
vụ và lợi ích
của người lao
động.
2- Khi kiểm
tra, công đoàn
yêu cầu thủ
trưởng cơ quan,
đơn vị, tổ chức
trả lời những
vấn đề đặt ra,
kiến nghị biện
pháp sửa chữa
các thiếu sót,
ngăn ngừa vi
phạm pháp luật
và xử lý người
vi phạm pháp
luật.
3- Thủ trưởng
cơ quan, đơn
vị, tổ chức
phải trả lời
cho công đoàn
biết kết quả
giải quyết những
kiến nghị do
công đoàn nêu
ra trong thời
hạn pháp luật
quy định. Những
vấn đề không
giải quyết được
phải nói rõ
lý do.
Ðiều 10
Công đoàn đại
diện cho người
lao động yêu
cầu thủ trưởng
cơ quan, đơn
vị, tổ chức
tiếp và trả
lời các vấn
đề do người
lao động đặt
ra.
Khi cần thiết,
công đoàn tổ
chức đối thoại
giữa tập thể
lao động với
thủ trưởng cơ
quan, đơn vị,
tổ chức hữu
quan để giải
quyết các vấn
đề liên quan
đến quyền, nghĩa
vụ và lợi ích
của người lao
động.
Ðiều 11
1- Công đoàn
cơ sở đại diện
cho người lao
động ký thoả
ước lao động
tập thể với
giám đốc xí
nghiệp thuộc
các thành phần
kinh tế; giám
sát việc ký
kết và thực
hiện hợp đồng
lao động.
2- Công đoàn
tham gia với
cơ quan Nhà
nước giải quyết
khiếu nại, tố
cáo của người
lao động theo
pháp luật.
3- Công đoàn
đại diện cho
người lao động
thương lượng
với thủ trưởng
cơ quan, đơn
vị, tổ chức
để giải quyết
các tranh chấp
lao động xảy
ra trong cơ
quan, đơn vị,
tổ chức mình.
Khi cơ quan
có thẩm quyền
giải quyết hoặc
Toà án xét xử
tranh chấp lao
động phải có
đại diện của
công đoàn tham
dự và phát biểu
ý kiến.
4- Người lao
động, dù chưa
là đoàn viên
công đoàn cũng
có quyền yêu
cầu Ban chấp
hành công đoàn
đại diện và
bảo vệ quyền
và lợi ích hợp
pháp của mình
trước Toà án,
thủ trưởng cơ
quan, đơn vị,
tổ chức hữu
quan.
Ðiều 12
1- Cơ quan Nhà
nước, thủ trưởng
đơn vị, tổ chức
cần phải thảo
luận với công
đoàn cùng cấp
trước khi quyết
định những vấn
đề liên quan
trực tiếp đến
quyền, nghĩa
vụ và lợi ích
của người lao
động.
2- Trước khi
quyết định các
vấn đề về tiền
lương, tiền
thưởng, nhà
ở, thi hành
kỷ luật đến
mức buộc người
lao động thôi
việc hoặc chấm
dứt hợp đồng
lao động trước
thời hạn thì
giám đốc xí
nghiệp quốc
doanh, thủ trưởng
cơ quan Nhà
nước, đơn vị
sự nghiệp phải
thảo luận, nhất
trí với Ban
chấp hành công
đoàn.
Trong trường
hợp không nhất
trí về những
vấn đề quy định
tại khoản này
thì hai bên
phải báo cáo
với cơ quan,
tổ chức có thẩm
quyền giải quyết.
Trong thời hạn
ba mươi ngày,
kể từ ngày nhận
được báo cáo,
cơ quan, tổ
chức có thẩm
quyền phải trả
lời.
Hội đồng bộ
trưởng và Tổng
liên đoàn lao
động Việt Nam
quy định cụ
thể trình tự,
thủ tục giải
quyết các trường
hợp không nhất
trí giữa công
đoàn với thủ
trưởng cơ quan,
đơn vị, tổ chức.
Các vấn đề thuộc
phạm vi tranh
chấp lao động
thì giải quyết
theo pháp luật
về giải quyết
tranh chấp lao
động.
3- Những vấn
đề thuộc phạm
vi thảo luận
và nhất trí
giữa Tổng liên
đoàn lao động
Việt Nam và
Hội đồng bộ
trưởng thì giải
quyết theo Quy
chế phối hợp
hoạt động giữa
hai bên.
Ðiều 13
Căn cứ vào những
quy định tại
Luật này, Hội
đồng bộ trưởng
cùng với Tổng
liên đoàn lao
động Việt Nam
quy định cụ
thể quyền và
trách nhiệm
công đoàn cơ
sở phù hợp với
đặc điểm của
từng loại cơ
quan, đơn vị,
tổ chức và xí
nghiệp thuộc
các thành phần
kinh tế, hợp
tác xã.
CHƯƠNG
III
NHỮNG BẢO ĐẢM
HOẠT ĐỘNG CÔNG
ĐOÀN
Ðiều 14
Thủ trưởng cơ
quan, đơn vị,
tổ chức tạo
điều kiện làm
việc, cung cấp
thông tin cần
thiết để công
đoàn thực hiện
chức năng, quyền,
trách nhiệm
của mình.
Với sự thoả
thuận của Tổng
liên đoàn lao
động Việt
Nam, Hội đồng
bộ trưởng quy
định cụ thể
các vấn đề này.
Ðiều 15
1- Thủ trưởng
cơ quan, đơn
vị, tổ chức
tạo điều kiện
thuận lợi để
người lao động
làm tròn nhiệm
vụ khi họ được
bầu vào Ban
chấp hành công
đoàn hoặc được
công đoàn giao
nhiệm vụ.
2- Cán bộ công
đoàn không chuyên
trách được dành
một số thời
gian nhất định
trong giờ làm
việc để hoạt
động công đoàn.
Hội đồng bộ
trưởng và Tổng
liên đoàn lao
động Việt Nam
quy định cụ
thể thời gian
và điều kiện
hoạt động của
cán bộ công
đoàn không chuyên
trách.
3- Tổng liên
đoàn lao động
Việt
Nam
quy định số
lượng cán bộ
hoạt động chuyên
trách công đoàn.
Tiền lương của
cán bộ chuyên
trách do Tổng
liên đoàn lao
động Việt Nam
quy định theo
chính sách chung
và do quỹ công
đoàn đài thọ.
4- Khi quyết
định buộc thôi
việc, cho thôi
việc hoặc chấm
dứt hợp đồng
lao động trước
thời hạn và
thuyên chuyển
công tác đối
với uỷ viên
Ban chấp hành
công đoàn thì
phải được Ban
chấp hành công
đoàn cùng cấp
thoả thuận;
đối với Chủ
tịch Ban chấp
hành công đoàn
thì phải được
công đoàn cấp
trên trực tiếp
thoả thuận.
Ðiều 16
1- Công đoàn
thực hiện tự
quản về tài
chính theo pháp
luật và những
quy định của
Tổng liên đoàn
lao động Việt
Nam.
2- Các nguồn
thu vào quỹ
công đoàn gồm
có :
a) Tiền do đoàn
viên công đoàn
đóng góp; thu
được từ hoạt
động văn hoá,
thể thao, du
lịch, kinh doanh
của công đoàn;
do các tổ chức
quốc tế, các
công đoàn nước
ngoài ủng hộ;
b) Kinh phí
do ngân sách
Nhà nước cấp;
tiền trích từ
quỹ cơ quan,
đơn vị, tổ chức
chuyển vào quỹ
công đoàn theo
quy định của
Hội đồng bộ
trưởng.
Ðiều 17
Tài sản của
công đoàn là
tài sản xã hội
chủ nghĩa, được
pháp luật bảo
vệ và khuyến
khích phát triển,
phải quản lý
và sử dụng đúng
pháp luật. Các
bất động sản,
động sản, các
quỹ công đoàn,
các phương tiện
hoạt động và
các tài sản
khác do công
đoàn tạo nên,
do nước ngoài
viện trợ cho
công đoàn là
tài sản thuộc
quyền sở hữu
của công đoàn.
Chương IV
ÐIỀU KHOẢN CUỐI
CÙNG
Ðiều 18
Người vi phạm
các quy định
của Luật này,
thì tuỳ theo
mức độ nhẹ hoặc
nặng mà bị xử
lý kỷ luật,
xử phạt hành
chính hoặc bị
truy cứu trách
nhiệm hình sự.
Ðiều 19
Luật
này thay thế
Luật công đoàn
ngày
5-11-1957. Các
quy định trước
đây trái với
Luật này đều
bãi bỏ.
------------------------------------------
Luật này đã
được Quốc hội
nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá
VIII, kỳ họp
thứ 7 thông
qua ngày 30
tháng 6 năm
1990.
|