|

CHỦ TỊCH NƯỚC
LỆNH của Chủ tịch
nước số 3-L/CTN ngày 7/4/1998 công bố Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển
Việt Nam.
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều
103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992;
Căn cứ vào Điều
78 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều
51 của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh Lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Đã được Ủy ban
Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X, thông
qua ngày 28 tháng 3 năm 1998.
Chủ tịch nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
TRẦN ĐỨC LƯƠNG
-------------------------------------------------------------------------
PHÁP LỆNH
Lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam.
Để tăng cường
hiệu lực quản lý nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền,
quyền tài phán quốc gia và an ninh, trật tự trên các vùng biển và thềm
lục địa Việt Nam;
Căn cứ vào Hiến
pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Nghị
quyết của Quốc hội Khóa IX, kỳ họp thứ 5 về việc phê chuẩn Công ước của
Liên hợp quốc về Luật biển 1982;
Căn cứ vào Nghị
quyết của Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 2 về Chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh năm 1998;
Pháp lệnh này
quy định về Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 1:
Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước
thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự an toàn và bảo đảm việc
chấp hành pháp luật của Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia trên các vùng
biển và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam hoạt động theo quy định của Pháp lệnh này và các quy định
khác của pháp luật Việt Nam.
Điều 2:
Lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam là một trong các lực lượng vũ trang của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý nhà nước của
Chính phủ.
Bộ Quốc phòng trực
tiếp tổ chức, quản lý và điều hành mọi hoạt động của Lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam.
Điều 3:
Lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam hoạt động từ đường cơ sở ra đến ranh giới ngoài của vùng
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; chủ trì phối hợp với các lực
lượng hữu quan khác để thực hiện nhiệm vụ.
Trong vùng nội
thủy và các cảng biển, khi có yêu cầu, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương, Bộ đội Biên phòng,
Công an nhân dân, các lực lượng Hải quan, Giao thông vận tải, Thủy sản,
Dầu khí và các lực lượng khác để thực hiện nhiệm vụ.
Quy chế phối hợp
hoạt động và phân định vùng, trách nhiệm cụ thể giữa các lực lượng do
Chính phủ quy định.
Điều 4:
Cơ quan nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đơn vị vũ trang
nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân có trách nhiệm
cộng tác, giúp đỡ Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ.
CHƯƠNG II
TRÁCH NHIỆM,
NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Điều 5:
Cán bộ, chiến
sĩ Cảnh sát biển phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
cần thiết, nắm vững các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước
quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc
tham gia, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Cán bộ, chiến sĩ
Cảnh sát biển không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác
của mình để gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân.
Điều 6:
Trên vùng lãnh
hải và vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát
theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên
quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia để bảo
vệ chủ quyền, bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; giữ
gìn an ninh, trật tự an toàn; phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống các
hành vi vận chuyển trái phép người và vận chuyển trái phép hàng hóa, vũ
khí, chất nổ, chất ma túy và các chất kích thích; chống các hành vi buôn
lậu, cướp biển và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Điều 7:
Trên vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát
theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên
quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia để bảo
vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán; phòng, chống ô nhiễm môi trường;
phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh chống các hành vi cướp biển, vận
chuyển nô lệ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy và các chất kích
thích.
Điều 8:
Lực lượng cảnh
sát biển Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện việc hợp tác quốc tế trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật Việt Nam và
các điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ký kết hoặc tham gia để góp phần vào việc giữ gìn an ninh, trật tự, hòa
bình và ổn định trên các vùng biển trong khu vực và quốc tế.
Điều 9:
Lực lượng Cảnh
sát biển Việt Nam có nhiệm vụ thu thập, xử lý kịp thời và thông báo cho
các cơ quan chức năng các thông tin cần thiết; phối hợp với các lực
lượng khác bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng, tải sản của người và
phương tiện hoạt động hợp pháp trên các vùng biển và thềm lục địa Việt
Nam; tham gia tìm kiếm, cứu nạn và khắc phục các sự cố trên biển; phối
hợp với các đơn vị khác của lực lượng vũ trang để bảo vệ chủ quyền, an
ninh quốc gia trên các hải đảo, vùng biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quyền chủ quyền trên vùng đặc quyền
kinh tế, thềm lục địa của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 10:
Khi phát hiện
người và phương tiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam và các điều
ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết
hoặc tham gia, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có quyền kiểm tra, kiểm
soát; nếu có hành vi vi phạm thì quyết định xử phạt hành chính theo quy
định của pháp luật, buộc người và phương tiện đó phải chấm dứt hành vi
vi phạm, rời khỏi vùng nước đang hoạt động hoặc rời khỏi vùng biển Việt
Nam; bắt, giữ người và phương tiện phạm pháp quả tang, lập biên bản và
chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 11:
Trong trường
hợp người và phương tiện vi phạm pháp luật không chịu tuân theo hiệu
lệnh, chống đối và cố tình bỏ chạy thì Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
có quyền cưỡng chế, thực hiện quyền truy đuổi hoặc các quyền khác theo
quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Điều 12:
Trong tình thế
cấp thiết phải đuổi bắt người và phương tiện vi phạm pháp luật, cấp cứu
người bị nạn, ứng phó với sự cố môi trường nghiêm trọng thì Lực lượng
Cảnh sát biển Việt Nam được quyền huy động người, phương tiện của các tổ
chức và cá nhân Việt Nam, nhưng phải hoàn trả ngay khi tình thế cấp
thiết chấm dứt. Trong trường hợp các phương tiện được huy động bị hư
hỏng hoặc bị mất thì đơn vị Cảnh sát biển có trách nhiệm bồi thường,
người được huy động làm nhiệm vụ mà bị thương hoặc bị chết thì được giải
quyết theo chính sách của Nhà nước.
Trong tình thế cấp
thiết, nếu không huy động được người, phương tiện của các tổ chức, cá
nhân Việt Nam hoặc đã huy động nhưng vẫn chưa giải quyết được tình thế
này, thì Lực lượng Cảnh sát biển có thể yêu cầu người, phương tiện nước
ngoài hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam giúp đỡ
theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên
quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Điều 13:
Lực lượng Cảnh
sát biển được nổ súng trong các trường hợp sau đây:
1.
Khi người vi phạm dùng vũ khí chống trả, dùng các biện pháp khác
trực tiếp đe dọa tính mạng và an toàn phương tiện của Cảnh sát biển;
2.
Khi truy đuổi người và phương tiện có hành vi vi phạm nghiêm
trọng, nếu không dùng vũ khí thì người và phương tiện đó có thể chạy
thoát.
3.
Để bảo vệ công dân khi bị người khác trực tiếp đe dọa tính mạng.
Trong các trường
hợp được nổ súng quy định tại điều này, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển
chỉ được bắn vào đối tượng sau khi đã ra lệnh cho họ dừng lại hoặc nổ
súng cảnh cáo mà không có kết quả, trừ trường hợp cấp bách; đối với
những trường hợp phức tạp, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, an
ninh quốc gia thì phải báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định.
Điều 14:
Khi thi hành
nhiệm vụ, Lực lượng Cảnh sát biển có quyền xử phạt vi phạm hành chính và
áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính.
Việc xử phạt vi
phạm hành chính và áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành
chính thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và
các quy định khác của pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế có liên
quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Thẩm quyền của Lực
lượng Cảnh sát biển trong việc xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các
biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính, hình thức và mức xử phạt
đối với từng loại hành vi vi phạm hành chính do Chính phủ quy định.
Chương III
TỔ CHỨC CỦA LỰC
LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Điều 15:
Tổ chức và
hoạt động của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam do Chính phủ quy định.
Biên chế, trang bị
cụ thể của Lực lượng cảnh sát biển Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
quy định.
Điều 16:
Lực lượng Cảnh
sát biển Việt Nam bao gồm: sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan,
binh sĩ và công nhân quốc phòng (gọi chung là cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát
biển).
Điều 17:
Việc bổ nhiệm,
cách chức, giáng chức; phong, thăng , giáng và tước cấp bậc quân hàm đối
với cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển được thực hiện như sau:
1.
Đối với sĩ quan thực hiện theo Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân
Việt Nam;
2.
Đối với quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ thực hiện
theo Luật nghĩa vụ quân sự;
3.
Đối với công nhân quốc phòng thực hiện theo quy định của pháp
luật.
Điều 18:
Chế độ phục vụ
của cán bộ, chiến sĩ trong Lực lượng Cảnh sát biển thực hiện theo các
văn bản pháp luật quy định đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và các quy
định khác của pháp luật.
Điều 19:
Lực lượng Cảnh
sát biển Việt Nam có cờ hiệu, phù hiệu và sắc phục riêng do Chính phủ
quy định.
Khi làm nhiệm vụ,
tàu thuyền và phương tiện khác của Lực lượng Cảnh sát biển phải treo
quốc kỳ và cờ hiệu Cảnh sát biển; cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển phải
mặc trang phục và mang phù hiệu Cảnh sát biển.
Chương IV
QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Điều 20:
Nội dung quản
lý nhà nước đối với Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam gồm:
1.
Ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về
Lực lượng Cảnh sát biển;
2.
Quy định hệ thống tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy Lực lượng Cảnh sát
biển;
3.
Quy định và tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chiến
sĩ Cảnh sát biển;
4.
Quy định và thực hiện các chế độ, chính sách đối với Lực lượng
Cảnh sát biển;
5.
Kiểm tra, thanh tra các hoạt động của Lực lượng Cảnh sát biển;
Điều 21:
1.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với Lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam.
2.
Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc
quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Lực lượng Cảnh sát biển
Việt Nam; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và chủ trì phối hợp với các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương trong việc xây dựng, tổ chức và hoạt động của
Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
3.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ và tạo điều
kiện để Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ.
4.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ và tạo
điều kiện để Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ.
5.
Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về
hoạt động của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
Chương V
CHẾ ĐỘ, CHÍNH
SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CẢNH SÁT BIỂN
Điều 22:
Cán bộ, chiến
sĩ Cảnh sát biển được hưởng các chế độ, chính sách như đối với cán bộ,
chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.
Điều 23:
Kinh phí tổ
chức, xây dựng và hoạt động của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam do ngân
sách Nhà nước bảo đảm.
Chương VI
KHEN THƯỞNG VÀ
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 24:
Cán bộ, chiến
sĩ Cảnh sát biển có thành tích trong công tác, chiến đấu thì được khen
thưởng theo quy định của pháp luật.
Cán bộ, chiến sĩ
Cảnh sát biển vi phạm kỷ luật thì bị xử lý theo Điều lệnh kỷ luật của
Quân đội nhân dân Việt Nam; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự.
Điều 25:
Tổ chức, cá
nhân có thành tích trong bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và an ninh,
trật tự an toàn trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, giúp đỡ Lực
lượng Cảnh sát biển thực hiện nhiệm vụ thì được khen thưởng theo quy
định của pháp luật.
Người nào có hành
vi vi phạm pháp luật trong bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và an ninh,
trật tự an toàn trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, gây cản trở
việc thực hiện nhiệm vụ của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thì tùy
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự.
Chương VII
ĐIỀU KHOẢN THI
HÀNH
Điều 26:
Pháp lệnh này
có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 9 năm 1998.
Điều 27:
Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
T.M. Ủy ban
Thường vụ Quốc hội
Chủ tịch
NÔNG ĐỨC MẠNH
|